CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ THÀNH LẬP CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TƯ THỤC 1. Khái niệm, đặc điểm cơ sở giáo dục đại học tư thục 1. Khái niệm cơ sở giáo dục đại học tư thục Xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam đã làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thu hút nguồn tài chính lớn trong tư nhân nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục đại học. CSGD đại học tư thục dần tạo niềm tin và chỗ đứng trong xã hội, hệ thống trường đại học tư thục ngày càng phát triển.
Đến năm 2020, hệ thống giáo dục đại học trên cả nước có 237 trường đại học và học viện. Trong đó, trường đại học công lập là 172 trường; trường đại học ngoài công lập là 65 trường (số liệu không bao gồm trường đại học, học viện thuộc khối an ninh, quốc phòng)1. Tại thời điểm tháng 10 năm 2022, số lượng trường đại học trên cả nước đã tăng lên 244 trường bao gồm 178 trường công lập và 66 trường tư thục2. Song song với sự hình thành và phát triển hệ thống giáo dục đại học tư thục ở Việt Nam thì các thuật ngữ pháp lý và các khái niệm liên quan và hệ thống quy phạm pháp luật về giáo dục đại học tư thục cũng từng bước hình thành và dần hoàn thiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tương ứng.
Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về CSGD đại học tư thục, thì khái niệm CSGD đại học tư thục dần được hình thành và có sự thay đổi khác nhau. Từ năm 1988, Bộ Đại học trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề (nay là Bộ Giáo dục và đào tạo) đã có Quyết định số 1687/KH-TV ngày 15/12/1988 thí điểm triển khai mô hình trường đại học ngoài công lập đầu tiên là Trung tâm đại học dân lập Thăng Long (nay là trường Đại học Thăng Long). Đến năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 240/1993/QĐ- Ttg về Quy chế đại học tư thục quy định những điều khoản cơ bản về thể thức thành lập, quản lý và điều hành các đại học tư thục nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo của đại học tư thục và tạo điều kiện cho đại học tư thục phát triển. Quy 1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số liệu thống kê giáo dục đại học năm học 2018 – 2019, https://moet.vn/ thong-ke/Pages/thong-ko-giao-duc-dai-hoc.
2 Phòng Thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số liệu tính đến ngày 8 tháng 10 năm 2022. 8 chế này đã đưa ra khái niệm đại học tư thục: “Đại học tư thục là các cơ sở đại học do tư nhân lập ra theo Quy chế này và kinh phí hoạt động do tư nhân đầu tư hoặc đóng góp”3. Quyết định số 196/1994/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Quy chế tạm thời Đại học dân lập” có nội dung tương tự nhưng thay đổi cụm từ “tư thục” thành “dân lập”. Năm 1998, Luật Giáo dục đầu tiên ra đời, lần đầu tiên pháp luật về giáo dục được pháp điển hóa.
Luật Giáo dục 1998 không có quy định về khái niệm CSGD đại học tư thục, loại hình CSGD tư thục chưa được quy định cụ thể. Luật Giáo dục 1998 chỉ ra các loại hình sơ sở giáo dục bao gồm: loại hình công lập, loại hình bán công, loại hình tư thục, loại hình dân lập4. Trường đại học được đào tạo những trình độ sau: cao đẳng, đại học và thạc sĩ, tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao5. Sau đó để hướng dẫn Luật giáo dục 1998 thì ngày 30 tháng 8 năm 2000, Chính phủ đã ban hành nghị định 43/2000/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục.
Nghị định đã đưa ra căn cứ xác định các loại hình CSGD: CSGD công lập, CSGD bán công, CSGD tư thục, CSGD dân lập6. Trong đó, CSGD tư thục được xác định do cá nhân hay một nhóm cá nhân xin phép thành lập và tự đầu tư. CSGD công lập do Nhà nước thành lập, bổ nhiệm cán bộ quản lý và giao chỉ tiêu biên chế; Nhà nước quản lý, đầu tư về cơ sở vật chất, cấp kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. CSGD bán công do Nhà nước thành lập trên cơ sở huy động các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất.
CSGD dân lập do các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, kinh tế xin phép thành lập và tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước. Căn cứ xác định loại hình CSGD chủ yếu dựa trên chủ thể thành lập và nguồn vốn thành lập CSGD. Sự khác biệt giữa CSGD tư thục với các loại hình cơ sở khác trên hai phương diện là chủ thể thành lập (cá nhân hoặc nhóm cá nhân); nguồn vốn đầu tư thành lập ngoài ngân sách nhà nước do chính cá nhân hoặc nhóm cá nhân đó đầu tư. 3 Điều 1, Quy chế đại học tư thục ban hành kèm theo Quyết định số 240/1993/QĐ-Ttg về Quy chế đại học tư thục.
4 Khoản 1, Điều 44 Luật Giáo dục 1998. 5 Khoản 1, Điều 38 Luật Giáo dục 1998. 6 Khoản 1, Điều 13, Nghị định 43/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục. 9 Từ phân tích trên, Luật Giáo dục 1998 xác định cơ sở giáo dục là trường đại học tư thục của dựa vào ba tiêu chí sau: Thứ nhất, CSGD đó đáp ứng các điều kiện để đào tạo trình độ đại học cao đẳng, đại học và thạc sĩ, tiến sĩ và phải được Thủ tướng Chính phủ giao7.
Thứ hai, trường đại học tư thục do cá nhân hay nhóm cá nhân xin phép thành lập. Thứ ba, nguồn vốn thành lập là nguồn vốn ngoài ngân sách do cá nhân hoặc nhóm cá nhân tự bỏ ra. Tóm lại, Luật Giáo dục 1998 không có quy định về khái niệm CSGD đại học tư thục nhưng căn cứ vào đặc điểm được hiểu là: “Trường đại học tư thục là trường đại học do cá nhân hoặc nhóm cá nhân tự đầu tư vốn, xin phép thành lập và hoạt động”. Luật Giáo dục 2005 thay thế Luật Giáo dục 1998, thì nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo 3 loại hình: công lập, dân lập, tư thục8.
Những điểm mới Luật Giáo dục 2005 so với Luật Giáo dục 1998: (i) Loại hình CSGD bán công đã được loại bỏ. (ii) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Trường dân lập hoạt động trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, nhân lực và được chính quyền địa phương hỗ trợ và không thành lập CSGD dân lập ở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học9. (iii) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Riêng loại hình trường công lập được xác định giống với Luật Giáo dục 2018. Như vậy, Luật Giáo dục 2005 và sau đó là Nghị định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định hai loại hình trường đại học là trường đại học công lập 7 Điểm b, khoản 1, Điều 38, Nghị định 43/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục. 8 Khoản 1, Điều 48, Luật Giáo dục 2005 9 Khoản 2, Điều 18, Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục 10 và trường đại học tư thục. Chính vì sự thay đổi trong quy định loại hình trường đại học, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 122/2006/QĐ-Ttg chuyển đổi 19 trường đại học dân lập thành loại hình đại học tư thục.
Qua phân tích các quy định pháp luật giáo dục và các hướng dẫn áp dụng chuyển tiếp trong các văn bản pháp luật và CSGD đại học ngoài công lập, có thể thấy: Thứ nhất, chủ thể thành lập trường tư thục theo Luật Giáo dục 2005 so với Luật Giáo dục 1998 bao gồm cả chủ thể thành lập trường dân lập, tức là các tổ chức. Bên cạnh đó, Luật Giáo dục 2005 lại không quy định nhóm cá nhân là chủ thể thành lập trường đại học tư thục. Khi nhóm cá nhân muốn thành lập trường đại học tư thục thì phải thành lập tổ chức kinh tế. Đây là điểm bất cập trong quy định về chủ thể thành lập trường tư thục, chủ thể bị giới hạn và làm phức tạp thủ tục thành lập.
Luật Giáo dục 2005 không có quy định về khái niệm trường đại học tư thục, nhưng từ phân tích trên có thể hiểu: “trường đại học tư thục là trường đại học do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước”. Năm 2012, Luật Giáo dục đại học ra đời CSGD đại học được phân chia thành CSGD đại học Việt Nam và CSGD đại học có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, điều 7, Luật Giáo dục đại học 2012 có quy định CSGD đại học Việt Nam bao gồm CSGD đại học công lập và CSGD tư thục. Tại khoản 2, điều 7 Luật Giáo dục đại học khẳng định: “CSGD đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất”.
Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Giáo dục đại học 2012 đưa ra định nghĩa về CSGD đại học tư thục như sau: “CSGD đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động”. Bên cạnh đó, Điều 11 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật GDĐH 2018 chỉ ra chủ thể thành lập CSGD đại học tư thục là nhà đầu tư và chỉ rõ nhà đầu tư là tổ 11 chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài đầu tư thành lập CSGD đại học tư thục, CSGD đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước. So với Luật Giáo dục đại học 2012 chủ thể thành lập trường đại học tư thục được khái quát hơn mở rộng hơn.