PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Các nƣớc đang phát triển tiến hành cách mạng viễn thông đều nhận thức đƣợc rằng viễn thông là động lực quan trọng cho tăng trƣởng kinh tế và phát triển. Bằng chứng trong hơn hai thập kỷ qua trên thế giới cho thấy công nghệ thông tin thúc đẩy phát triển, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế giúp cải thiện cuộc sống cho ngƣời nghèo, cải thiện chất lƣợng giáo dục, tăng hiệu quả và sự minh bạch của chính phủ, đƣa chính phủ đến gần với ngƣời dân hơn, và giúp các quốc gia có khả năng cạnh tranh cao hơn, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Cải cách mạnh mẽ, tăng cƣờng cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội và chính phủ sử dụng công nghệ thông tin và đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế nói chung.
Thập kỷ qua đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của dịch vụ và công nghệ viễn thông cũng nhƣ thƣơng mại quốc tế về dịch vụ. Điều đó đã buộc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải cạnh tranh ngày càng quyết liệt với nhau để giành thị phần và theo đó các tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng phải không ngừng hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh để điều chỉnh những hành vi cạnh tranh, đảm bảo lợi ích của xã hội và ngƣời tiêu dùng. Theo cách hiểu đơn giản nhất, khu vực viễn thông của nền kinh tế có năng lực cạnh tranh và hiệu quả nếu có sự cạnh tranh trong nội bộ ngành viễn thông. Tuy nhiên, sự tồn tại của hai hoặc nhiều nhà cung ứng dịch vụ viễn thông chƣa có nghĩa là đã tồn tại cạnh tranh thực sự.
Cạnh tranh tồn tại khi: - Tất cả hoặc một số lƣợng lớn khách hàng đƣợc tự do lựa chọn giữa các loại giá, dịch vụ và chất lƣợng do nhiều (hơn 2) nhà cung ứng dịch vụ cung cấp; - Ngƣời tiêu dùng có thể lựa chọn, nhu cầu của họ đƣợc cung cấp và đáp ứng; 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cạnh tranh để thu hút khách hàng, thông qua phát triển và điều chỉnh các lựa chọn và giá cả của các dịch vụ cung ứng là lực lƣợng điều tiết cơ bản trong ngành. Nếu ngành viễn thông đáp ứng các điều kiện trên thì đƣợc coi là có cạnh tranh. Nhƣ vậy ngành viễn thông có khả năng cạnh tranh khi môi trƣờng kinh doanh vi mô của ngành thuận lợi cho việc tăng năng suất nhanh chóng nhờ cạnh tranh đem lại. Cuộc đua tranh mạnh mẽ hơn do cạnh tranh thúc đẩy làm cho việc cung cấp dịch vụ viễn thông hiệu quả hơn.
Đó là đối với những doanh nghiệp đang có khả năng cạnh tranh, còn có cạnh tranh đƣợc hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh quốc tế của hàng hóa và dịch vụ trao đổi trên thị trƣờng quốc tế là rất quan trọng vì nó đảm bảo cho hàng hóa dịch vụ có thể chiếm lĩnh khách hàng của các hàng hóa và dịch vụ hiện có trên thị trƣờng thế giới. Nếu giá cả, chất lƣợng và chủng loại hàng hóa dịch vụ của một nền kinh tế có ƣu thế hơn thì thị trƣờng sẽ có nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của quốc gia đó và hàng hóa dịch vụ của họ sẽ đƣợc tiêu thụ tốt hơn so với hàng hóa dịch vụ của các nƣớc khác. Quan điểm về tự do hoá viễn thông của Việt Nam là thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế vào khu vực viễn thông, chuyển doanh nghiệp viễn thông truyền thống thuộc sở hữu nhà nƣớc sang kinh doanh và từng bƣớc mở rộng cạnh tranh.
Quan điểm này đƣợc thể hiện trong các chính sách chung cũng nhƣ các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua. Chiến lƣợc phát triển Công nghệ thông tin - viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 của Bộ Bƣu chính viễn thông năm 2003 [ 9 ] đã khẳng định: tạo thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế tham gia phát triển viễn thông trong môi trƣờng cạnh tranh công bằng và minh bạch. Cụ thể, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực viễn thông đƣợc đa dạng hoá, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nƣớc, nhà nƣớc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nắm giữ cổ phần thống lĩnh hoặc đặc biệt, hoặc doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Chính sách này đƣợc khẳng định trong Pháp lệnh Bƣu chính Viễn thông.
Tuy nhiên, mức độ tham gia của khu vực tƣ nhân vào lĩnh vực bƣu chính viễn thông là rất khác nhau giữa các hoạt động viễn thông. Các doanh nghiệp kinh doanh mạng, trong đó có các doanh nghiệp IXP, phải là doanh nghiệp 100% vốn sở hữu của nhà nƣớc hoặc có cổ phần thống lĩnh hoặc đặc biệt của nhà nƣớc, trong khi đó các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông có thể là doanh nghiệp Việt Nam thuộc tất cả các thành phần kinh tế, trong đó có các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ISP và OSP. Chính sách này đƣợc áp dụng đối với hầu hết các dịch vụ giá trị gia tăng. Chính sách phát triển ngành viễn thông đã khẳng định sự chuyển đổi viễn thông từ độc quyền sang cạnh tranh, nhƣng khu vực kinh tế nhà nƣớc có vai trò chủ đạo.
Cụ thể, thị phần của các doanh nghiệp mới dự kiến sẽ đạt 25- 30% vào năm 2005 và 40-50% vào năm 2010. Cũng theo kế hoạch, đến năm 2005 sẽ có thêm 3 đến 5 nhà cung cấp IXP, 30 đến 40 ISP và nhiều nhà cung cấp OSP đƣợc cung cấp dịch vụ Internet. Cách tiếp cận chung đối với tự do hoá viễn thông là mở rộng thị trƣờng cạnh tranh cùng với tăng cƣờng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nƣớc; cho phép các doanh nghiệp trong nƣớc có điều kiện, chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nƣớc, cung ứng các dịch vụ giá trị gia tăng cũng nhƣ dịch vụ cơ bản và từng bƣớc mở của khu vực viễn thông cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài theo các cam kết quốc tế; hoạt động cung cấp dịch vụ sẽ đƣợc tự do hoá mạnh hơn kinh doanh mạng viễn thông. - Tìm hiểu về quy định pháp luật quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông - Nghiên cứu tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam thời gian gần đây, xu hƣớng cạnh tranh sẽ diễn ra giữa các doanh nghiệp 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viễn thông Việt Nam và quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đánh giá hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh của Việt Nam hiện nay - Phân tích các điểm hạn chế trong pháp luật về cạnh tranh và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài sẽ nghiên cứu về quy định pháp luật quốc tế và Việt Nam về cạnh tranh trong kinh doanh các dịch vụ viễn thông, các vƣớng mắc và hƣớng giải quyết. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận khoa học đƣợc vận dụng trong luận văn này là hệ thống lý luận của học thuyết Mác – Lê nin, các lý thuyết về khoa học kinh tế và quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc về ngành viễn thông. Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng để thực hiện đề tài này là: Phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo… Từ đây đƣa ra các giải pháp để hoạt động cạnh tranh viễn thông đƣợc tốt hơn. Bố cục của luận văn Để thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn bao gồm ba chƣơng sau đây: CHƢƠNG 1.
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - Khái quát chung - Các quy định của pháp luật quốc tế về cạnh tranh - Quá trình hình thành và pháp luật của Việt Nam về cạnh tranh CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Pháp luật quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông - Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG - Thực hiện các điều ƣớc quốc tế về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông - Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông phù hợp với các cam kết gia nhập WTO Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội, nhất là các cán bộ, giảng viên Khoa Luật và Khoa Sau Đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện hoàn thành bản luận văn này. Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.
TS Đinh Ngọc Vƣợng đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong việc nghiên cứu và thực hiện luận văn. Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các cán bộ thuộc Bƣu điện TP Hà Nội và Tập đoàn Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã hỗ trợ, giúp đỡ thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho luận văn. Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát chung Cho đến hiện nay đã có nhiều học thuyết về cạnh tranh, song không có sự xác định về mặt pháp lý nội hàm của khái niệm cạnh tranh. Các học thuyết về cạnh tranh chỉ thống nhất với nhau ở chỗ phải ngăn cản và cấm đoán những hành vi gây rối, ngăn cản hoặc hạn chế cạnh tranh mà thôi. Xuất phát từ sự bất lực của pháp luật khi điều chỉnh các hành vi cạnh tranh mang tính tích cực (cạnh tranh hợp pháp), các nhà làm luật trong lịch sử đều tiếp cận từ mặt trái của những hành vi cạnh tranh (cạnh tranh không lành mạnh). Vì vậy, pháp luật cạnh tranh không thể đƣa ra đƣợc những dấu hiệu để xác định cạnh tranh hợp pháp và vì vậy không có khái niệm cạnh tranh bất hợp pháp mà chỉ có hành vi cạnh tranh không lành mạnh (hiểu theo nghĩa rộng).
Thứ hai, cạnh tranh là hoạt động, hành vi của các chủ thể hoạt động theo luật tƣ, trong khi đó việc cấm đoán, ngăn cản những hành vi cạnh tranh của pháp luật có khi lại phải đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp của luật công. Hơn thế nữa, hình thức và phƣơng pháp cạnh tranh là “luật chơi” riêng của thƣơng trƣờng.