mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ 18. Một thế kỷ sau đó xuất hiện động cơ đốt trong do Otto và Langen phát minh (1876), có hiệu suất cao hơn, với cùng công suất thì có kích thước bé hơn so với động cơ đốt ngoài. Nhiên liệu cho động cơ đốt trong là xăng và diezen, các sản phẩm của dầu mỏ. Năm 1859 Mỹ bắt đầu khai thác dầu mỏ.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1886 chiếc ôtô chạy xăng đầu tiên ra đời ở Mỹ. Năm 1900 cả thế giới mới sản xuất được 2 vạn ôtô. Năm 1990 có 50 triệu ôtô xuất xưởng, chiếm 10% sản lượng công nghiệp của các nước phát triển [35]. Hiện nay trên hành tinh của chúng ta có hơn 300 triệu ôtô đi lại hàng ngày trên mọi nẻo đường.
Nếu tính trung bình mỗi xe chạy 70 km/ngày với mức tiêu hao nhiên liệu 0,193 kg/km thì một năm cả thế giới tiêu thụ khoảng 1,5 tỉ tấn xăng dầu, chiếm gần một nửa sản lượng dầu thô khai thác được (sản lượng dầu thô toàn thế giới là 3,46 tỉ tấn [133]). Nếu năm 1915 người ta bắt đầu nhận ra khả năng tiềm ẩn của khí thải ôtô đối với sự ô nhiễm không khí thì phải đến năm 1945 người ta mới nhận ra nó chính là thủ phạm của hiện tượng sương mù ở thành phố Los Angeles thuộc bang California (Mỹ). Các biện pháp lớn chống ô nhiễm không khí ở các nước thường được đưa ra tiếp sau các sự kiện lớn: ở Mỹ, đó là sự kiện sương mù ở California; ở Đức, đó là sự kiện ―chết rừng‖; ở Anh, việc cấm dùng xăng pha chì không phải chỉ liên quan đến việc dùng các hộp xúc tác cho xe ôtô, mà chính là nhằm làm giảm lượng chì trong máu, được phát hiện trong một bộ phận dân cư [141]. Ngày 14/9/1967, Uỷ ban Châu Âu lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về ô nhiễm không khí: ―Ô nhiễm không khí là sự xuất hiện một chất lạ, hoặc sự thay đổi đáng kể của thành phần không khí có khả năng gây ra hậu quả có hại, dựa trên trình độ hiểu biết của khoa học đương thời‖.
Năm 1970 luật về chính sách môi trường và luật về không khí sạch được ban hành ở Mỹ, đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức của con người về tầm quan trọng của việc chống ô nhiễm môi trường sống. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Liệt kê một số chất ô nhiễm không khí. Năm 1970 Quốc hội Mỹ đã liệt kê 189 chất gây ô nhiễm không khí.
Năm 1991 có 6 chất được liệt kê vào danh mục các Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí Quốc gia (National Ambient Air Quality Standards, NAAQS) gồm: 1.Oxit lưu huỳnh, SOx; 2. Cacbon monooxit, CO; 4. Nitơ dioxit, NO2; 6. Ngoài ra có 8 chất khác được liệt vào danh mục các chất ô nhiễm ngẫu nhiên (National Emission Standards for Hazardous Air Pollution, NESHAP) gồm: 1.Các hạt nhân phóng xạ.
đưa ra nồng độ được phép (tối đa) nơi ở và nơi sản xuất của một số chất theo tiêu chuẩn chất lượng không khí của Mỹ. Tiêu chuẩn chất lượng không khí của Mỹ [92]. Chất Nồng độ cho phép nơi sinh sống Nồng độ cho phép nơi sản xuất SO2 80 g/m3 (0,03 ppm), TB(*) năm 2 ppm, TB 8 giờ 365 g/m3 (0,14 ppm),TB 24 giờ 5 ppm, TB 15 phút O3 235 g/m3 (0,12ppm),TB 1 giờ 0,1 ppm,TB 8 giờ 0,3 ppm, TB 15 phút NO2 100 g/m3 (0,053 ppm),TB năm 3 ppm, TB 8 giờ 5 ppm, TB 15 phút 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CO 10 mg/m3 (9 ppm),TB 8 giờ 50 ppm, TB 8 giờ 40 mg/m3 (35 ppm), TB 1 giờ 400 ppm, TB 15 phút Bụi PM 10 50 g/m3, TB năm Tiêu chuẩn riêng cho từng loại bụi 150 g/m3,TB 24 giờ Pb 1,5 g/m3,TB quý 150 g/m3, TB 8 giờ 450 g/m3,TB 15 phút (*): trung bình Để thấy rõ các nguồn phát sinh ô nhiễm không khí, ở bảng 1. đưa ra khối lượng các chất ô nhiễm thải ra từ các nguồn khác nhau trong năm 1991 ở Mỹ [124].2 Khối lượng các chất ô nhiễm không khí (triệu tấn/năm) thải ra từ các nguồn khác nhau trong năm 1991 ở Mỹ.
Nguồn ô nhiễm PM 10 SOx CO NOx HC Pb Giao thông 1,51 0,99 43,49 7,26 5,08 0,00162 Đốt lò 1,10 16,55 4,67 10,59 0,67 0,00045 Quá trình công nghiệp 1,84 3,16 4,69 0,60 7,86 0,00221 Chất thải rắn 0,26 0,02 2,06 0,10 0,69 0,00069 Nguồn khác 0,73 0,01 7,18 0,21 2,59 0,00000 Tổng 5,44 20,73 62,09 18,76 16,89 0,00497 Từ bảng 1.2 ta có các nhận xét sau: 1.Tổng khối lượng các chất ô nhiễm phát ra từ các phương tiện giao thông là 58,3 triệu tấn, so với tổng khối lượng các chất ô nhiễm phát ra từ các nguồn khác nhau là 123,9 triệu tấn, chiếm tỉ lệ 58,33/123,9 47,07%. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ba chất ô nhiễm chính phát ra từ khí thải của xe cơ giới (CO, NOx và HC) có tổng khối lượng là 43,49+7,26+5,08=55,83 triệu tấn, chiếm tỉ lệ 55,83/58,33=95,71% tổng chất thải từ giao thông và 55,83/123,9 45% tổng chất ô nhiễm trong không khí. Trong các chất ô nhiễm, CO có khối lượng lớn nhất, 62,09 triệu tấn, chiếm tỉ lệ 62,09/123,9 50% tổng chất ô nhiễm không khí.
Nếu trước năm 1980 vấn đề ô nhiễm không khí được xem xét ở góc độ địa phương, và với lượng chất ô nhiễm có nồng độ lớn gây tác hại trực tiếp, thì sau năm 1980 vấn đề được xem xét ở quy mô rộng lớn hơn, quy mô toàn cầu với cả các chất ô nhiễm có nồng độ nhỏ nhưng gây tác hại lâu dài: vấn đề mưa axit, phá huỷ tầng ozon, hiệu ứng nhà kính. Để thấy rõ vai trò các chất ô nhiễm không khí trong việc biến đổi khí hậu ta cần nói qua về khí quyển Trái đất và thành phần khí quyển. Khí quyển Trái đất Đó là môi trường bao quanh Trái đất, khối lượng khí quyển khoảng 5,15. Khí quyển được chia thành các tầng: 1.Tầng đối lưu (troposphére) là tầng thấp nhất, dầy từ 7 km ở vùng cực đến 18 km ở xích đạo, tập trung 4/5 khối lượng khí quyển, nơi phát sinh mạnh mẽ các chuyển động đối lưu.
Nhiệt độ vùng đối lưu giảm 60C khi lên cao 1 km, đạt -500C ở vùng cực và - 800C ở ranh giới trên vùng xích đạo.Tầng bình lưu (stratosphere), từ 20- 50 km, ít nhiễu động, nhiệt độ tăng theo độ cao từ -400C đến khoảng 00C. Ở tầng này gió có thể đạt tốc độ 350 km/giờ. Thấp nhất trong tầng bình lưu là lớp ozon (20-25 km) có tác dụng hấp thụ các bức xạ sóng ngắn (cực tím) của mặt trời; 3.Tầng trung quyển (mesosphere) hay tầng hạ nhiệt (50-80 km) là tầng có nhiệt độ giảm dần theo độ cao, từ 00C đến - 900C ; 4.Tầng nhiệt quyển hay tầng tăng nhiệt, có nhiệt độ tăng theo độ cao, khoảng 1500 K ở 200-300 km và sau đó gần như không đổi; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tầng ngoại quyển là tầng ngoài cùng, từ vài trăm km trở lên.
Trong khí quyển Trái đất từ độ cao 50 km, một số phân tử khí phân ly thành nguyên tử và ion tạo nên tầng điện ly 50-1000 km, một số nguyên tử nhẹ (như hidro) chuyển động nhanh, có thể khuếch tán vào vũ trụ. Thành phần của khí quyển Trái đất: Bảng 1.3 cho ta thành phần hoá học của khí quyển Trái đất và sự biến đổi của nó: cột A là thời kỳ tiền công nghiệp (ppmV), cột B là hiện nay (ppmV), cột C là độ gia tăng hàng năm (%/năm) [77],[140].3 Thành phần hoá học của khí quyển trái đất. % A B C (ppmV) (ppmV) (%)/năm Tầng đối lƣu Nitơ………………. 20,984 Acgon………… 0,934 Đioxit cacbon.
1,710-4 1,0 1,7 2 Kripton…………… 1,1410-4 Hidro……………… 0,5010-4 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Protoxit nitơ………. 0,0910-4 Ozon……………… 0,02-0,110-4 CO………………… 0,05-0,2 0,13 3 SO2………………. 0,0 0,00015 8 Tầng bình lƣu Ozon………………. 3-510-4 Được biết cách đây 3-4 tỷ năm, khí quyển Trái đất gồm chủ yếu hơi nước và CO2 với nồng độ cao.
Sự tiến hoá đã đưa đến thành phần hiện nay của khí quyển bao gồm chủ yếu là N2 (78,084%) và O2 (20,984%), các khí khác chiếm tỷ lệ nhỏ, trong đó đáng chú ý là CO2 có tỷ lệ gia tăng 0,4%/năm khi bước sang thời kỳ công nghiệp hoá mà hậu quả là làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng nhà kính Hiệu ứng nhà kính sinh ra bởi các tia bức xạ (chủ yếu là hồng ngoại) được phản xạ từ mặt đất khi bị mặt trời đốt nóng, bị các khí hấp thụ rồi quay lại đốt nóng mặt đất chứ không thoát được vào vũ trụ (xem hình 1. Nếu không có hiệu ứng nhà kính thì theo cân bằng nhiệt, nhiệt độ trung bình của mặt đất đã là -180C. Nhờ hiệu ứng nhà kính, bề mặt Trái đất được sưởi ấm đến +150C.
Nhưng nếu không kiểm soát được lượng CO2 thì nhiệt độ trung bình đó sẽ tăng lên [45]. Nếu giả thiết hàm lượng CO2 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong thế kỷ 21 tăng gấp đôi thì nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái đất sẽ tăng 2-30C, kéo theo sự tan băng ở hai cực và sự giãn nở nhiệt của đại dương làm cho mực nước biển dâng lên 5-7 m [21],[140]. Sơ đồ minh hoạ hiệu ứng nhà kính Ngoài CO2 là cấu tử chính, một số khí khác cũng góp phần vào hiệu ứng nhà kính. Trong thời kỳ 1980-1990 thị phần của các khí gây ra hiệu ứng nhà kính như sau: CO2:55%; clorofluorocacbon (CFC) hay freon, tổng: 24%; CH4:15%; N2O:6% [68].
Các thị phần nêu ở đây không chỉ phụ thuộc vào nồng độ các khí trong khí quyển, mà còn phụ thuộc vào độ hấp thụ hồng ngoại (trong cửa sổ hẹp có = 8-12 m) hay hiệu quả gây hiệu ứng nhà kính của một phân tử (xem bảng 1. Các khí gây hiệu ứng nhà kính Tên chất Công thức Nồng độ trong Tỉ lệ gia tăng Hiệu quả gây khí quyển toàn hàng năm hiệu ứng nhà cầu, 1990 kính của 1 phân 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tử so với CO2 Dioxit cacbon CO2 350 ppm 0,5% 1 Metan CH4 1,7 ppm 0,9% 20 CFC-11 CCl3F 0,28 ppb 4% 12.000 CFC-12 CCl2F2 0,48 ppb 4% 16.000 Dinitơ oxit N2 O 0,31 ppb 0,25% 200 Cần nói thêm rằng thuật ngữ hiệu ứng nhà kính là không thật chính xác về ý nghĩa, vì nhà kính trong trồng trọt là để chắn gió giữ độ ẩm nhưng cho ánh sáng đi qua để quang hợp, còn nhà kính ở đây lại là để ngăn ánh sáng hồng ngoại phản xạ từ mặt đất 1. Hiện tượng suy giảm tầng ozon.