MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài: Theo quy hoạch điện VII hiệu chỉnh tháng 3 năm 2016 của Việt Nam[1], giai đoạn 2015-2030 điện năng sản xuất từ nhiệt điện than luôn tăng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn điện. Các nhà máy nhiệt điện đốt than đã và đang xây dựng ở Việt Nam hiện nay, cơ bản sử dụng công nghệ lò hơi đốt than phun với thông số cận tới hạn và siêu tới hạn quy công suất tổ máy từ 300 - 600 MW, nhiên liệu sử dụng là than antraxit (than nội địa) và một số sử dụng than bitum và á bitum (than nhập khẩu). Tƣơng lai tiếp theo quy mô công suất tổ máy dự kiến nâng lên đến 1000 MW. Các lò hơi đốt than phun đã đƣợc thiết kế chế tạo đốt than ổn định, song hiệu suất còn thấp, tỷ lệ carbon chƣa cháy hết trong tro còn cao.
Đặc biệt là đối với các lò hơi đốt than antraxit Việt Nam, loại than cháy ít khói, hàm lƣợng carbon (C) trong than cao, song chất bốc (V) thấp, hàm lƣợng tro xỉ (A) cao nên khó bắt cháy và khó cháy kiệt, hàm lƣợng độc hại nhƣ lƣu huỳnh (S), nitơ (N) trong than cao. Chính vì vậy, hiện nay, thành phần carbon còn lại trong tro xỉ ở các nhà máy nhiệt điện cũ đều rất cao nhƣ: Phả Lại: 12-18%, Ninh Bình: 15 -35%, Uông Bí cũ: 30 - 40%, .); Các nhà máy mới xây dựng nhƣ Phả Lại 2, Uông Bí mở rộng 1,. vẫn chƣa khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm trên của than antraxit Việt Nam, hàm lƣợng C còn lại trong tro vẫn cao (trên 12%), tại nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 với công nghệ tiên tiến và công suất tổ máy là 600 MW thì hàm lƣợng C còn lại trong tro (do không cháy hết) vẫn ở mức cao so với số liệu tính toán thiết kế. Ngoài ra, quá trình cháy than antraxit còn tạo ra lƣợng lớn các khí độc hại nhƣ SO x, NOx, gây áp lực lên môi trƣờng xung quanh và đòi hỏi các nhà máy phải trang bị các hệ thống kiểm soát, xử lý khói thải hiệu quả cao.
Gần đây, các lò hơi mới ở nhà máy nhiệt điện đốt than Việt Nam đều sử dụng dạng ngọn lửa hình W, nhằm kéo dài thời gian cháy của hạt than để hạt than cháy kiệt hơn, nâng cao độ ổn định và hiệu suất lò. Đối với nguồn nguyên liệu than có chất lƣợng thấp hơn (than cám 5b hoặc than cám 6), sử dụng công nghệ đốt tầng sôi tuần hoàn để đảm bảo quá trình cháy cũng nhƣ giảm thiểu các tác hại của khói thải đến môi trƣờng. 1 Các nghiên cứu lý thuyết cháy ứng dụng đã chỉ ra rằng, để nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng than ít chất bốc cần phải giải quyết các vấn đề kĩ thuật cơ bản sau: + Bảo đảm bắt lửa sớm, ổn định; + Bảo đảm hiệu suất cháy cao, cháy kiệt; + Hạn chế và loại bỏ đóng xỉ buồng lửa; + Đề phòng ăn mòn nhiệt độ cao; + Giảm chất phát thải khí và các thành phần ô nhiễm khác. Đây là những vấn đề kĩ thuật phức tạp, có ảnh hƣởng lẫn nhau, phải nghiên cứu và chọn lựa các giải pháp phù hợp, tối ƣu và đặc biệt phải lƣu ý đến biện pháp nhằm giảm thiểu nồng độ khí độc hại SO x, NOx trong khói thải (đáp ứng nồng độ phát thải quy định tại QCVN 22:2009/BTNMT).
Từ những trình bày trên đây có thể nhận thấy, ngoài vấn đề nâng cao độ tin cậy trong vận hành và đặc biệt là hiệu suất cháy than antraxit Việt Nam đồng thời chúng ta phải giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trƣờng bằng cách ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý khói thải và tối ƣu về mặt kỹ thuật – kinh tế. Để giải quyết vấn đề đặt ra, cần nghiên cứu bằng lý thuyết và bằng mô phỏng CFD quá trình cháy bột than, xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình cháy, tạo cơ sở tin cậy cho việc lựa chọn một số giải pháp nâng cao hiệu suất cháy antraxit trong buồng đốt than phun nhà máy nhiệt điện Việt Nam, đồng thời nghiên cứu các cơ chế hình thành khí độc hại NOx trong quá trình cháy, thực trạng và giải pháp xử lý khí NO x trong khói thải nhà máy nhiệt điện đốt than. Với lý do trình bày trên đây có thể nhận thấy, việc lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu giảm thiểu khí phát thải NOx trong lò hơi ngọn lửa hình chữ W” có ý nghĩa thực tiễn. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm (bằng mô hình CFD) quá trình hình thành NOx trong buồng đốt lò hơi nhà máy nhiệt điện.
2 Trên cơ sở kết quả thu đƣợc, đề xuất và lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả cháy antraxit Việt Nam đồng thời giảm thiểu sự phát thải khí NOx trong buồng đốt than phun nhà máy nhiệt điện. Để đạt đuợc mục đích nêu trên, quá trình nghiên cứu đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Nghiên cứu tổng quan sự hình thành và các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát thải khí NOx trong quá trình cháy; - Nghiên cứu sự hình thành khí NOx trong sản phẩm cháy trên mô hình mô phỏng; - Tổng hợp phân tích kết quả nghiên cứu và đề xuất lựa chọn giải pháp giảm thiểu NOx trong buồng đốt lò hơi ngọn lửa hình chữ W nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Quá trình cháy than nói chung và cháy than antraxit nói riêng hết sức phức tạp và rất rộng lớn, cả về đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Vì vậy, đối tƣợng nghiên cứu đặt ra trong luận văn này là buồng đốt than phun tại nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 và phạm vi nghiên cứu là ảnh hƣởng của một số yếu tố đến quá trình cháy và sự hình thành khí NO x làm cơ sở cho việc đề xuất lựa chọn giải pháp giảm thiểu khí phát thải NOx trong nhà máy nhiệt điện lò hơi ngọn lửa hình chữ W.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Để giải quyết vấn đề đặt ra luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với mô hình mô phỏng. - Nội dung nghiên cứu lý thuyết: Các cơ chế hình thành khí NOx trong quá trình cháy; Ảnh hƣởng của hàm lƣợng Nitơ (N) trong than; Tính toán lƣợng phát thải trong sản phẩm cháy của giải pháp mới. - Nội dung nghiên cứu trên mô hình mô phỏng: sử dụng phần mềm CFD cho quá trình cháy than phun và nồng độ khí NOx trong buồng đốt. Từ đó có so sánh, đánh giá và kết luận hiệu quả và đƣa ra giải pháp.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của việc xử lý NOx : Nhiệt điện đốt than ở Việt Nam: Quy hoạch điện VII đã dự báo tổng tiêu thụ điện năng Việt Nam tăng trƣởng ở mức 11,1%/năm, giai đoạn 2016-2020 và 7,8%/năm giai đoạn 2020-2030 tƣơng ứng với sản lƣợng điện dự báo đạt 230. Theo đó, tổng công suất phát điện ƣớc tính đạt 52,04 GW vào năm 2020 và 110,2 GW vào năm 2030 với tổng công suất đặt các nhà máy nhiệt điện đốt than (NĐĐT) tăng nhanh và mạnh mẽ đến năm 2020 đạt khoảng 36.000 MW, chiếm 46,8% sản lƣợng điện sản xuất và tiêu thụ khoảng 67,3 triệu tấn than,và năm 2030 công suất đặt các NĐĐT đạt 75.000MW, chiếm 56,4% sản lƣợng điện sản xuất. Công suất này giảm xuống còn 30.585 MW tƣơng ứng trong quy hoạch điện 7 điều chỉnh [1].
Nhu cầu than cho sản xuất điện năm 2020 khoảng 63 triệu tấn; năm 2025 khoảng 95 triệu tấn than và năm 2030 sẽ khoảng 129 triệu tấn than. Do nguồn than sản xuất trong nƣớc hạn chế, không đủ cung cấp, nên một số nhà máy nhiệt điện tại các trung tâm điện lực: miền Trung và miền Nam nhƣ: Vĩnh Tân, Duyên Hải, Long Phú, Sông Hậu, Long An vv.sẽ sử dụng nguồn than nhập khẩu. Nhƣ vậy, giai đoạn 2015-2030 nhiệt điện than có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu phát triển hệ thống điện Việt Nam, chiếm tỷ trọng lớn về công suất và điện năng, vƣợt xa các nguồn khác nhƣ dầu khí, thủy điện và năng lƣợng tái tạo. Với công suất đặt và điện năng sản xuất nhƣ trên, NMNĐ đốt than cần lƣợng than rất lớn.
Khả năng cung cấp than nội địa và than nhập khẩu cho sản xuất điện đƣợc trình bày trong bảng 1.1: Dự kiến cân đối cung cầu than sau khi điều chỉnh [7]. Đơn vị: triệu tấn Năm 2013 2015 2020 2025 2030 1.Tổng nguồn cung 40 45 50 55 60 2.Tổng nhu cầu 28 38 42 62 72 91 98 114 138 Nhu cầu ngoài điện 16 18 20 22 22 24 24 28 Than cho điện 12 20 24 42 50 68 74 90 110 - Trong nƣớc 12 24 32 38 38 42 40 45 - Nhập khẩu 10 12 30 32 50 65 Từ Bảng 1.1 có thể nhận thấy, than antraxit Việt Nam cho sản xuất điện tăng mạnh: từ 24 triệu tấn năm 2015 lên 32-38 triệu tấn năm 2020, 30-42 triệu tấn năm 2025 và 40-45 triệu tấn vào năm 2030. Do khả năng khai thác than nội địa còn hạn chế, nên khoảng trống thiếu hụttrong cân đối năng lƣợng Việt Nam đƣợc hy vọng vào than nhập nhập khẩu. Tỷ lệ than khẩu so với than nội địa cho sản xuất điện tăng mạnh, từ khoảng 31% năm 2020 lên khoảng 76-78% năm 2025 và 125-144% năm 2030.
Để cung cấp than ổn định cho các nhà máy nhiệt điện, ngoài việc phải nhập khẩu than cần đẩy mạnh đầu tƣ, khai thác than nội địa. Chủng loại than nội địa chủ yếu vẫn là sử dụng than cám 5, cám 6 đƣợc quy định tại TCVN: 8910-2011. Từ những dữ liệu trình bày trên đây, có thể kết luận là: than đang và sẽ là loại nhiên liệu sơ cấp quan trọng cho sản xuất điện năng ở Việt Nam. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng than, các giải pháp nâng cấp và giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng ở các NMNĐ đốt than vẫn đang là vấn đề cấp thiết.
Lƣợng khí NO x thải ra hàng năm: Khí NO x là tên gọi chung của các oxyde nitơ gồm các chất NO, NO2, N2O, N2 O5. Trong đó, khi đề cập đến vấn đề môi trƣờng, chúng ta thƣờng quan tâm chủ yếu đến NO, NO 2 chúng đƣợc gọi chung là NOx (và một lƣợng nhỏ N 2O). Theo số liệu tính toán của báo cáo đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc của Quy hoạch điện 7 lƣợng khí NOx trong khí thải nhà máy nhiệt điện than theo các năm là: 5 Bảng 1.