CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cần sa, các chế phẩm của cần sa và tác hại của chúng 1. Giới thiệu về cần sa Cây cần sa (canabis sativa) có nguồn gốc từ Ấn Độ và Ba Tư, sau đó được trồng phổ biến ở các nước ôn đới và nhiệt đới từ hàng trăm năm nay nhằm mục đích lấy sợi hoặc sử dụng trong các lễ hội mang tính tâm linh.
Tính tới nay, các chế phẩm/sản phẩm cần sa là loại ma túy bị lạm dụng nhiếu nhất trên thị trường ma túy lậu. Việc trồng cây cần sa hầu như diễn ra khắp mọi nơi, và hầu như ở tất cả các nước trên thế giới. Nhựa cần sa được sản xuất tại khoảng 65 nước trên thế giới, chủ yếu là tại các nước thuộc khu vực Bắc Phi và Tây-Nam Á, đặc biệt là Afghanistan và Pakistan. Châu Phi là quê hương của nước sản xuất nhựa cần sa hàng đầu thế giới là Ma-rốc, nổi tiếng về trồng cần sa.
Hầu hết nhựa cần sa bắt được ở Châu Âu đều có nguồn gốc buôn lậu từ Ma-rốc. Nhựa cần sa từ Ma-rốc có đặc điểm đặc trưng giống với đặc điểm của nhựa cần sa từ các nước khác thí dụ như các nước thuộc vùng đông và nam Địa Trung Hải. Afghanistan là nước lớn thứ hai thế giới về sản xuất nhựa cần sa. Nhựa cần sa từ Afghanistan có đặc điểm giống với nhựa từ các vùng khác của tiểu lục địa Ấn Độ.
Li-Băng đã từng có thời là một trong những nước cung cấp nhựa cần sa hàng đầu thế giới, và nếu như không có những nỗ lực triệt phá liên tục của cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, có thể nó vẫn đứng đầu thế giới về cung cấp nhựa cần sa. Về cây cần sa, Châu Mỹ chiếm khoảng 55% sản lượng trên toàn cầu năm 2006, sau đến Châu Phi (khoảng 22%). Hầu hết cây cần sa đều được sản xuất cho các thị trường nội địa và xuất khẩu sang nước láng giềng, còn ít bị buôn lậu trên thế giới [2]. Bộ phận chứa hoạt chất có tác dụng lên hệ thần kinh chủ yếu ở lá, quả và hoa (đặc biệt là phần ngọn cây).
Các bộ phận này được thu hoạch riêng, phơi khô, ép thành bánh hoặc bó lại để sử dụng bằng cách hút, đôi khi dùng qua đường uống. Các sản phẩm thực vật này có tên chung là marijuana, chúng có thể khác nhau về hình thức trình bày cũng như thành phần, hàm lượng hoạt chất. Hàm lượng hoạt chất giảm khi hạt hình thành, bởi vậy ở một số nơi Luan van 4 người ta tỉa bỏ những cây đực để ngăn cản quá trình thụ phấn tạo hạt, các sản phẩm thu được có tên là Sinsemila [2]. Tại một số nước đã xuất hiện hiện tượng trồng trái phép cần sa trong nhà, có thể trồng theo phương pháp thủy canh, không cần đất mà sử dụng đèn chiếu sáng nhằm qua mặt các cơ quan an ninh cho thấy mức độ phức tạp và khó khăn trong công tác điều tra phòng chống tội phạm.
Cây cần sa được trồng ngày càng nhiều trong nhà tại các nước phát triển về mặt kỹ thuật. Từ những năm 1970, các nước trồng cần sa ở Bắc Mỹ và Châu Âu đã nghiên cứu để tạo ra các giống cần sa có hàm lượng hoạt chất cao hơn, và thị trường về cần sa có hàm lượng THC cao, trồng trong nhà sử dụng kỹ thuật ngăn không cho hoa cái thụ phấn đang ngày một phát triển tại nhiều nước tiêu thụ cần sa chính. Vào cuối thế kỷ trước, kỹ thuật ngăn không cho hoa cái thụ phấn được áp dụng rất nhiều tại Mỹ, Canada và Hà Lan – ba nước đi tiên phong về công nghệ nhân giống và trồng cây cần sa – báo hiệu rằng thị phần của cần sa đang ngày một gia tăng ở nhiều nước. Cần sa trồng trong nhà Cần sa được nhiều người cho là “ma túy cửa ngõ”, dẫn đến việc sử dụng lạm dụng bất hợp pháp và được sử dụng ở rất nhiều nơi.
Trong những năm qua, việc sử dụng cần sa đã tăng lên đều đặn, cả về mặt y tế và mặt giải trí, Luan van 5 đặc biệt là ở thanh thiếu niên và sử dụng phổ biến hơn ở nam giới hơn phụ nữ. Cần sa thường được cuộn thành điếu giống như điếu thuốc lá để hút nhằm tạo cảm giác hưng phấn. Một điếu cần sa nhỏ có thể được bán với giá thành rất đắt so với thuốc lá. Cần sa còn có thể được hút bằng ống nước (bong), một thiết bị điện tử cầm tay (vape pen), có thể được kết hợp vào trà và ấu ăn.
Hình ảnh về cây cần sa và cần sa thường dùng trong thực tế 1. Các chế phẩm từ cần sa Trong nông nghiệp cây cần sa đã được sử dụng để lấy sợi từ lâu. Các sản phẩm hợp pháp cần sa gồm có hạt cần sa, dầu từ hạt cần sa và tinh dầu cần sa. Các chế phẩm từ cần sa được sản xuất với các quy trình khác nhau và cách chuyển hóa khác nhau để nhằm mục đích buôn lậu và sử dụng bất hợp pháp, các chế phẩm và sản phẩm trái phép của cần sa gồm ba loại chính là: Cây cần sa, nhựa cần sa và dầu cần sa do hàm lượng THC cao.
Nhựa cần sa là sản phẩm chế biến bằng cách loại bỏ hạt, sợi, hàm lượng THC đạt 2-10%. Trên thế giới, việc sản xuất nhựa cần sa được tập trung vào hai khu vực chính là khu vực đông và nam Địa Trung Hải, khu vực Nam và Tây Nam Á. Hai khu vực này sử dụng rất nhiều phương pháp để sản xuất nhựa cần sa. Tuy nhiên, nói chung là mỗi khu vực đều sử dụng những kỹ thuật giống nhau.
Sàng và rây là một khâu quan trọng của quá trình sản xuất nhựa cần sa trong cả hai khu vực nay [2]. Cần sa lỏng là dịch chiết lỏng của cần sa thực vật hoặc nhựa cần sa, với dụng cụ chiết tương tự như chiết soxhlet. Các dung môi hữu cơ thường dùng là etanol, clorofom, hexanee, ete dầu hỏa, cần sa lỏng chứa THC tới 10-30%. Tác hại của việc sử dụng cần sa Cần sa gây ra hàng loạt những biến đổi về tâm lý và hành động ở người sử dụng, thường tạo ra những khoái cảm, hưng phấn, nói nhiều.
Nếu như người nghiện heroin chỉ trở nên hung dữ khi lên cơn thèm thuốc thì người nghiện cần sa có thể trở nên hung dữ ngay cả khi đang hưng phấn. Khi sử dụng cần sa, các cơ quan cảm giác như thị giác, thính giác, xúc giác và vị giác bị kích thích mạnh dẫn đến ảo giác, trí nhớ lẫn lộn, không phân biệt được quá khứ, hiện tại. Người nghiện có thể quên đi mọi lo lắng, ưu tư, cảm thấy mình trôi nổi, bồng bềnh, không quan tâm đến việc gì, không có mục đích rõ ràng. Từ đó dẫn đến những trang thái bất thường về hành vi, không làm chủ được các hoạt động của bản thân.
Sử dụng cần sa lâu dài có thể bị rối loạn thần kinh, tình dục, giảm khả năng sinh sản, gây ra trụy thai, chết thai hay rối loạn nhiễm sắc thể. Cần sa có thể gây ra bất tỉnh, thậm chí dẫn đến tử vong. Bên cạnh đó cần sa cũng có một vài công dụng dùng trong y học như chống lại tác dụng gây nôn của các chất hóa trị liệu chống ung thư, làm thư giãn cơ, chống co giật, hạ nhãn áp. Tuy nhiên việc sử dụng cần sa cho mục đích y học cần được kiểm soát chặt chẽ.
Các thành phần hóa học của cần sa có ý nghĩa trong khoa học hình sự Bảng 1. Các thành phần hóa học của cần sa có ý nghĩa trong khoa học hình sự (-)-Δ9-trans-Tetrahydrocannabinol - Công thức phân tử: C21H30O2 Tetrahydrocannabinol, THC - Khối lượng phân tử: 314,46 g/mol - Gần như không tan trong nước (2,8 mg/l ở 23oC), tan tốt trong dung môi etanol, clorofom, hexane. - Dược lý: Giảm đau, kháng viêm, chống nôn. (-)-∆9-trans-Tetrahydrocannabinolic - Công thức phân tử: C22H30O4 Acid, THCA - Khối lượng phân tử: 358 g/mol - Gần như không tan trong nước, tan Luan van 7 tốt trong dung môi etanol, clorofom, hexane.
- Dược lý: Kháng khuẩn, kháng sinh. Cannabinol, CBN - Công thức phân tử: C21H26O2 - Khối lượng phân tử: 310,43 g/mol - Gần như không tan trong nước, tan tốt trong dung môi etanol, clorofom, hexane. - Dược lý: An thần, giảm đau, chống co giật, kháng sinh, kháng viêm. Cannabidiol, CBD - Công thức phân tử: C21H30O2 - Khối lượng phân tử: 314,46 g/mol - Gần như không tan trong nước, tan tốt trong dung môi etanol, clorofom, hexane.
- Dược lý: An thần, giảm đau, chống co thắt, kháng viêm. Cannabigerol, CBG - Công thức phân tử: C21H32O2 - Khối lượng phân tử: 316,48 g/mol - Dược lý: Kháng sinh, kháng viêm, giảm đau, chống nấm. Cannabivarin, CBV - Công thức phân tử: C19H22O2 - Khối lượng phân tử: 282,38 g/mol Luan van 8 Cannabichromene, CBC - Công thức phân tử:C21H30O2 - Khối lượng phân tử: 314,46 g/mol - Dược lý: Kháng viêm, kháng sinh, giảm đau, chống nấm, Hàm lượng THC trong cần sa thực vật khoảng 0,5-5%. Các kết quả phân tích hàm lượng THC trong cần sa thực vật ở Việt Nam khoảng 3-5%, tuy nhiên trong một số mẫu, có thể đạt tới 10-12%.
Hàm lượng THC thay đổi tùy vào các bộ phận của cây cần sa STT Loại cây cần sa Hàm lượng THC 1 Hoa cái 10-12% 2 Lá 1-2% 3 Thân 0,1-0,3% 4 Gốc <0,03% Hàm lượng THC của các sản phẩm cần sa (cây, nhựa và dầu) là tỷ lệ của khối lượng hoạt chất THC trên khối lượng của các phần của cây cần sa sử dụng. Ví dụ như một nghiên cứu ở Thụy Sĩ năm 2006 cho thấy 2/3 vụ bắt giữ cây cần sa có hàm lượng THC trong cây cần sa từ 2% đến 12 %, 2/3 số vụ bắt giữ nhựa cần sa có hàm lượng THC từ 4% đến 21 %, tùy thuộc vào điều kiện và kỹ thuật canh tác cụ thể, còn quá trình chiết nhựa và nụ hoa cần sa có thể cho ra sản phẩm dầu cần sa có hàm lượng THC lên tới 60% [3]. Thời gian phát hiện và đối tượng phân tích đối với người sử dụng cần sa Chưa có nghiên cứu nào chỉ ra thời gian chính xác để phát hiện mẫu dương tính với người sử dụng cần sa, bởi nó phụ thuộc nhiều yếu tố như loại mẫu, độ nhạy của thiết bị phát hiện, tần suất, liều lượng, thời gian sử dụng lần cuối cùng, hệ thống tiêu hóa, di truyền, tình trạng trao đổi chất, hệ thống bài tiết của mỗi cá nhân, đồng thời còn những yếu tố khác tác động vào như bệnh tật hay sử dụng cùng lúc các loại ma túy khác.