MỞ ĐẦU Trong vài thập kỷ gần đây, sự phát triển kinh tế kéo theo sự gia tăng nhanh chóng số lượng của phương tiện giao thông. Ngoài lợi ích thu được thu được từ các phương tiện giao thông mang lại, còn có vấn đề về chất thải và ô nhiễm môi trường do các phương tiện này tạo ra chẳng hạn như săm lốp phế thải. Năm 2007, ở Châu Âu đã thải bỏ g ần 3,4 triệu tấn săm, lốp [16], còn ở Mỹ là gần 4,6 triệu tấn [24]. Các nước Châu Á có mức thải bỏ ít hơn.
Tuy nhiên riêng Nhật Bản cũng đã có t ới gần 1 triệu tấn phế thải cao su [13]. Việt Nam với số lượng xe gắn máy ước 20 triệu chiếc, cộng thêm với ô tô, xe tải, và nền sản xuất các sản phẩm cao su khác, mỗi năm ước tiń h nư ớc ta đã thải ra môi trường khoảng 400.000 tấn phế liệu cao su [12]. Đây thực sự là thách thức lớn đối với môi trường sống của con người. Hầu hết chất thải là cao su phế thải rất khó phân hủy, bền vững trước tác nhân hóa học, sinh học, vật lý và phải mất khoảng vài chục năm nó mới có khả năng phân hủy vào trong đất.
Mặt khác do hình khối của phế thải, nên chúng chiếm thể tích lớn, vì vậy nếu chôn lấp chúng có thể làm phá vỡ cấu trúc của bãi chôn lấp [14]. Nếu sử dụng phương pháp đốt cao su phế thải ở nhiệt độ cao thì rất khó kiểm soát mức độ gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất. Vì vậy, với sự gia tăng về lượng cao su phế thải như hiện nay, thì các loại rác khó phân hủy như cao su cần phải có hướng xử lý mới để tận dụng nguồn nguyên liệu này hoặc hạn chế đến mức thấp nhất tác động của loại chất thải này đối với môi trường. Cao su có cấ u tạo từ các mạch polyme cao phân tử , dưới tác du ̣ng của nhiê ̣t đô ̣ cao chúng có thể bi ̣phân hủy trở thành các ma ̣ch hydrocacbon nhỏ hơn.
Nghiên cứu quá trình phân hủy cao su dưới tác du ̣ng của nhiê ̣t đô ̣ và xúc tác là hướng đi đươ ̣c các nhà khoa ho ̣c ưu tiên lựa cho ̣n thay thế cho các phương pháp xử lý truyề n thố ng như chôn lấp, đốt đang gă ̣p nhiề u vấ n đề liên 1 z quan đến ô nhiễm môi trường. Đồng thời, nế u tâ ̣n du ̣ng đươ ̣c các sản phẩ m của quá trình phân hủy nhiê ̣t cao su , có thể thu được một nguồn nhiên liệu lớn, đáp ứng đươ ̣c mô ̣t phầ n nhu cầ u nhiên liệu hiê ̣n nay. Trong khi đó, ở Việt Nam số lượng các công trình nghiên cứu tận dụng nguồn nguyên liệu là săm lốp phế thải vào các mục đích khác nhau còn hạn chế. Do vậy, để đóng góp vào hướng nghiên cứu này chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là: “Nghiên cứu xử lý cao su phế thải bằng phƣơng pháp hóa nhiệt xúc tác “ Các nội dung chính của luận văn: Thử nghiệm nghiên cứu quá trình cracking cao su phế thải trên xúc tác zeolit, trong đó tập trung vào một số vấn đề sau: - Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình cracking cao su phế thải.
- Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ phần trăm xúc tác so với lượng cao su đến hiệu suất quá trình cracking cao su phế thải. - Xác định đặc điểm hỗn hợp dầu thu được sau phản ứng. - Đánh giá tính chọn lọc của xúc tác đên phản ứng phân hủy nhiệt đối với cao su. 2 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
Tổng quan về cao su[10] Cao su là hợp chất cao phân tử mà mạch phân tử của nó có chiều dài lớn hơn rất nhiều so với chiều rộng và được cấu tạo từ một loại hoặc nhiều loại mắt xích có cấu tạo hoá học khác nhau được lặp đi lặp lại nhiều lần. Cao su là loại vật liệu có tính chất vô cùng quý giá. Khác với các vật thể rắn, cao su có độ bền cơ học thấp hơn, nhưng đại lượng biến dạng đàn hồi lớn hơn nhiều lần. Khác với các chất lỏng được đặc trưng bởi độ bền cơ học rất nhỏ và đại lượng biến dạng chảy nhớt không thuận nghịch lớn, cao su trong nhiều lĩnh vực được sử dụng như một vật liệu chịu lực có đại lượng biến dạng đàn hồi nhỏ.
Hỗn hợp cao su là một hệ thống dị thể nhiều cấu tử. Cũng như các hệ thống hoá học khác, các tính chất cơ, lý, hoá đặc trưng cho hợp phần cao su phụ thuộc vào bản chất hoá học các cấu tạo, kích thước hay mức độ phân tán các cấu tử trong khối cao su. Độ bền nhiệt của cao su phụ thuộc chủ yếu vào năng lượng liên kết các nguyên tố hình thành trong mạch chính, bảng 1. Năng lượng liên kết càng cao, độ bền nhiệt cao su càng lớn, cao su càng có khả năng làm việc ở nhiệt độ cao.1: Năng lượng liên kết của liên kết chính trong cao su[10] Liên kết hóa Năng lượng liên Liên kết hóa Năng lượng liên kết học kết (kJ/mol) học (kJ/mol) C-C 349 Si-Si 233 C-O 353 S-S 243-260 Si-O 454 3 z Cấu tạo thành phần của cao su phụ thuộc vào bản chất các liên kết tạo nên mạch chính.
Các liên kết không phân cực hình thành các các mạch phân tử có cấu trúc thẳng. Các liên kết phân cực hình thành các mạch phân tử có cấu trúc lò xo. Lực tác dụng tương hỗ giữa các phân tử, các nhóm thế của mạch đại phân tử mà đại lượng để đánh giá nó là mật độ năng lượng liên kết dính nội gây ảnh hưởng rất lớn đến độ trương và hoà tan cao su vào các loại dung môi hữu cơ. Mặt khác, sự phụ thuộc vào lực tác dụng tương hỗ giữa các phân tử đàn tính của vật liệu thay đổi khi nhiệt độ thay đổi, đàn tính của cao su giảm nhanh khi nhiệt độ giảm.
Tính chất của cao su cũng được tổng hợp từ một loại monome như nhau có thể khác nhau phụ thuộc vào thứ tự, vị trí sắp xếp chúng trong không gian. Hiện nay có rất nhiều loại cao su và chúng được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Nhưng nhìn chung cao su được phân loại theo nguồn gốc sản xuất và lĩnh vực sử dụng. Cao su thiên nhiên Cao su tự nhiên hay cao su thiên nhiên là loại vật liệu được sản xuất từ mủ cây cao su (Hevea brasiliensis) của họ Đại kích (Euphorbiaceae).
Những người dân Nam Mỹ là những người đầu tiên phát hiện và sử dụng cao su tự nhiên ở thế kỷ 16. Henry Wickham hái hàng ngàn hạt ở Brasil vào năm 1876 và mang những hạt đó đến Kew Gardens (Anh) cho nảy mầm. Các cây con được gửi đến Colombo, Indonesia, và Singapore. Ngoài cây cao su, các loại cây khác có thể cho mủ là đa búp đỏ (Ficus elastica), các cây đại kích, và bồ công anh thông thường.
Nói chung, cây cao su trên thế giới thuộc vào 5 họ thực vật sau: Euphorbiaceae, Moraceae, Apocynaceae, Asclepiadaceae và Composeae. Tuy các loài thực vật này chưa bao giờ là nguồn cao su quan trọng, Đức đã sử dụng những cây đó trong Thế chiến II khi nguồn cung cấp cao su bị cắt. 4 z Mủ cao su thiên nhiên là dạng nhũ tương trong nước của các hạt cao su với hàm lượng phần khô từ 28%-40%. Kích thước hạt cao su rất nhỏ, cỡ khoảng 0,05-3μm và có hình quả trứng gà.
Trong 1 gam mủ cao su với hàm lượng phần khô 40% có 5000 hạt với đường kính trung bình 0,26μm, tất cả các hạt này đều ở trạng thái chuyển động Browner. Cấu tạo hóa học Về mặt hóa học, cao su thiên nhiên là polyisopren - polyme của isopren. Mạch đại phân tử của cao su thiên nhiên được hình thành từ các mắt xích isopren đồng phân cis liên kết với nhau ở vị trí 1,4. Ngoài đồng phân cis 1,4 thì trong cao su thiên nhiên còn có khoảng 2% mắt xích liên kết với nhau ở vị trí 3,4.
Ngoài ra, cao su có nguồn gốc từ nhựa cây Gutapertra được hình thành từ polyme của isopren đồng phân trans 1,4. Cao su tự nhiên ở nhiệt độ thấp có cấu trúc tinh thể, nóng chảy ở 40oC. Quá trình nóng chảy các cấu trúc tinh thể của cao su tự nhiên xảy ra với hiện tượng hấp thụ nhiệt. Tính chất vật lý của cao su tự nhiên dựa trên bảng 1.
Năm 1839, Charles Goodyear (Hoa Kỳ) phát minh ra quá trình lưu hóa cao su. Chính từ khám phá này mà nền công nghiệp cao su trên thế giới phát triển vượt bậc. Sau phát minh lưu hóa cao su, kỹ nghệ chế biến cao su phát triển mạnh mẽ, do đó nhu cầu nguyên liệu cao su càng lúc càng cao.2: Tính chất vật lý của cao su tự nhiên[10] Đặc tính Giá trị số Đặc tính Giá trị số Khối lượng riêng 913 (kg/m3) Nhiệt dung riêng 688 (kJ/kgđộ) Nhiệt độ hoá thuỷ Nửa chu kỳ kết tinh ở -70OC 2-4 giờ tinh 25OC Hệ số dãn nở thể 656.1012 Điện trở riêng tích (dm3/OC) ( m) Nhiệt dẫn riêng 0,14. Cao su tổng hợp Cao su thiên nhiên là những vật liệu polime vô cùng quan trọng trong kỹ thuật và đời sống.
Tuy nhiên cao su thiên nhiên không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của đời sống. Hơn nữa cao su thiên nhiên còn có những nhược điểm như khả năng chống dầu chịu nhiệt kém. Vì vậy các nhà khoa học đã tìm con đường tổng hợp cao su từ các chất hữu cơ đơn giản bằng phản ứng trùng hợp hay trùng ngưng. Năm 1879, Bouchardt chế tạo được một loại cao su tổng hợp từ phản ứng trùng hợp isopren trong phòng thí nghiệm.
Các nhà khoa học Anh và Đức sau đó, trong thời gian 1910-1912, phát triển các phương pháp khác cũng tạo ra chất dẻo từ isopren. Cao su tổng hợp là chất dẻo được con người chế tạo với chức năng là chất co giãn. Một chất co giãn là vật chất có đặc tính cơ học là chịu được sức ép thay đổi hình dạng hơn phần lớn các vật chất khác mà vẫn phục hồi hình dạng cũ. Cao su tổng hợp được dùng thay thế cao su tự nhiên trong rất nhiều ứng dụng, khi mà những đặc tính ưu việt của nó phát huy tác dụng.
6 z Cao su tổng hợp được tạo ra từ phản ứng trùng ngưng các cấu trúc đơn bao gồm isopren (2-methyl-1, 3-butadien), 1,3-butadien, cloropren (2-cloro- 1,3-butadien) và isobutylen (methylpropen) với một lượng nhỏ phần trăm isopren cho liên kết chuỗi.