Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương lông dendrocalamus giganteus tại huyện tuần giáo tỉnh điện biên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương lông Dendrocalamus giganteus tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

67
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ CÁC VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Về thực tiễn

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu

2.2. Nghiên cứu về cây tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam

2.2.1. Nghiên cứu về tre trúc trên thế giới

2.2.2. Nghiên cứu về phân loại, phân bố

2.2.3. Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của các loài tre trúc trên thế giới

2.2.4. Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam

2.2.5. Nghiên cứu về phân loại, phân bố tre trúc ở Việt Nam

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.2.1. Điều tra tình hình phân bố và đặc điểm hình thái cây Bương lông điện biên tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

3.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng về chiều cao và đường kính của cây, số cây/khóm theo tuổi

3.2.3. Nghiên cứu điều kiện lập địa (đất) và thành phần thực vật và khả năng phòng hộ cây Bương lông

3.2.4. Tìm hiểu kinh nghiệm bản địa về trồng và chăm sóc, giá trị sử dụng của cây Bương tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

3.3. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.3.1. Phương pháp kế thừa

3.3.2. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm hình thái và phân bố cây Bương lông tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

4.1.1. Đặc điểm hình thái cây

4.1.2. Đặc điểm phân bố

4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng của cây Bương lông tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

4.2. Kết quả điều tra điều kiện lập địa (đất), thành phần cây bụi và khả năng phòng hộ của cây Bương lông tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

4.2.1. Đặc điểm đất sinh trưởng của cây Bương lông

4.2.2. Thành phần thực vật trong rừng Bương lông

4.2.3. Khả năng phòng hộ của rừng Bương

4.3. Tổng kết kiến thức bản địa của người dân trong việc trồng, chăm sóc và giá trị sử dụng cây Bương lông tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên

4.4. Kỹ thuật trồng bằng giống gốc

4.5. Giá trị sử dụng của cây Bương lông

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặc điểm phân bố cây Bương lông Dendrocalamus giganteus

Cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) là một trong những loài tre lớn nhất tại Việt Nam, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Đặc điểm phân bố của loài này không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn liên quan đến các yếu tố sinh thái như độ cao, độ ẩm và loại đất. Theo nghiên cứu, cây Bương lông thường mọc ở những khu vực có độ cao từ 500 đến 1.200 mét so với mực nước biển, nơi có khí hậu ẩm ướt và lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.500 mm/năm. Điều này cho thấy rằng môi trường sống lý tưởng cho cây Bương lông là những khu rừng có độ che phủ cao, giúp bảo vệ cây khỏi các yếu tố bất lợi từ môi trường. Việc nghiên cứu phân bố của cây Bương lông không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo tồn nguồn gen mà còn hỗ trợ cho việc phát triển bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.

1.1. Phân tích điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên tại huyện Tuần Giáo rất thuận lợi cho sự phát triển của cây Bương lông. Địa hình nơi đây chủ yếu là đồi núi, với độ dốc vừa phải, tạo điều kiện cho nước mưa không bị xói mòn. Đất đai tại khu vực này thường là đất đỏ bazan, giàu dinh dưỡng, thích hợp cho sự sinh trưởng của cây trồng. Nghiên cứu cho thấy rằng cây Bương lông có khả năng phát triển tốt trên các loại đất có độ pH từ 5.5 đến 6.5, với độ ẩm đất cao. Điều này cho thấy rằng việc bảo tồn và phát triển cây Bương lông cần phải chú trọng đến việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên của nó, đồng thời khuyến khích các biện pháp canh tác bền vững để duy trì nguồn tài nguyên này.

II. Đặc điểm sinh trưởng của cây Bương lông

Cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) có tốc độ sinh trưởng nhanh, với chiều cao có thể đạt từ 18 đến 24 mét và đường kính gốc từ 20 đến 25 cm. Nghiên cứu cho thấy rằng cây có thể đạt chiều cao tối đa trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm. Đặc điểm này không chỉ giúp cây Bương lông trở thành nguồn nguyên liệu quý giá cho ngành công nghiệp chế biến mà còn tạo ra giá trị kinh tế cao cho người dân địa phương. Việc theo dõi sự sinh trưởng của cây Bương lông cũng cho thấy rằng số lượng cây trên mỗi khóm có thể dao động từ 5 đến 10 cây, tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc và môi trường sống. Điều này cho thấy rằng việc quản lý và phát triển cây Bương lông cần phải được thực hiện một cách khoa học và hợp lý để đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu bền vững.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Sinh trưởng của cây Bương lông chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có điều kiện khí hậu, đất đai và sự chăm sóc của con người. Nghiên cứu cho thấy rằng cây Bương lông phát triển tốt nhất trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, với nhiệt độ trung bình từ 20 đến 30 độ C. Ngoài ra, việc cung cấp đủ nước và dinh dưỡng cho cây cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng. Các biện pháp chăm sóc như tưới nước, bón phân và kiểm soát sâu bệnh cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo cây phát triển khỏe mạnh. Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác hiện đại cũng có thể giúp nâng cao năng suất và chất lượng của cây Bương lông, từ đó gia tăng giá trị kinh tế cho người dân.

III. Giá trị sử dụng của cây Bương lông

Cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) không chỉ có giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hóa và sinh thái. Thân cây được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất giấy và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Măng Bương lông cũng là một loại thực phẩm được ưa chuộng, có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon. Theo nghiên cứu, một bụi cây Bương lông có thể cho tới 180 kg măng tươi mỗi năm, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân địa phương. Ngoài ra, cây Bương lông còn có khả năng cải thiện môi trường sống, giúp bảo vệ đất và ngăn chặn xói mòn. Việc phát triển cây Bương lông không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên rừng.

3.1. Ứng dụng trong đời sống

Cây Bương lông được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của người dân địa phương. Thân cây có thể được sử dụng để xây dựng nhà cửa, làm đồ gia dụng và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Măng Bương lông không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng mà còn có giá trị kinh tế cao, được tiêu thụ cả trong và ngoài nước. Việc phát triển cây Bương lông không chỉ giúp nâng cao đời sống của người dân mà còn góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Các sản phẩm từ cây Bương lông ngày càng được ưa chuộng trên thị trường, mở ra nhiều cơ hội cho người dân trong việc phát triển kinh tế địa phương.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương lông dendrocalamus giganteus tại huyện tuần giáo tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005)[2], [8].

Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị. Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng.

Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nước trên thế giới có tre trúc và kể cả những nước sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc. Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) là một trong những loài tre lớn nhất Việt Nam phân bố tự nhiên ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc. Đây là loài tre đa tác dụng, thân cây lớn, ít cành nhánh có thể dùng làm nguyên liệu giấy, ván gép thanh, làm nhà,… ngoài ra măng Bương lông còn là thực phẩm được bà con nhân dân rất ưa chuộng. n 2 Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn Điện Biên.

Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24 m, đường kính gốc 20 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Cho đến nay nghiên cứu về cây Bương lông điện biên ở trong nước rất ít, đặc biệt là nghiên cứu về đặc điểm lâm học, sinh thái học, biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhân giống và chế biến sản phẩm. Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố đã thành công cho một số loài tre , đă ̣c biê ̣t là các loài thuô ̣c chi Dendrocalamus vào nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố và tổng kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Bương lông điện biên. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu đư ợc đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên’’. Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận - Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây Bương tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Về thực tiễn - Đề xuất được các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển cây Bương nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến cho tỉnh Điện Biên và các tỉnh lân cận.

Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa lý luận - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn. n 3 - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. * Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng.

- Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Bương. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu Thân cây Bương lông to, dài, có khả năng chống mối mọt cao nên thường được dùng làm cột buồm, làm nhà. Các dân tộc vùng cao dùng Bương lông làm máng dẫn nước, làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao, lá dùng để gói bánh.

Măng Bương to, ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp. Một bụi cây to có thể cho tới 180kg măng tươi/bụi/năm. Măng tươi của Bương lông được thị trường rất ưa chuộng vì có vị hơi đắng rất đặc biệt, măng đầu vụ có thể bán 3.000đ/kg; trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 15kg/măng. Có bụi một năm thu được 10 - 15 măng.

Một số hộ buôn bán còn mua măng tươi về sau đó luộc và bảo quản trong chum, vại to để 4 - 5 tháng sau mới bán cho được giá. Nghiên cứu về cây tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam 2. Nghiên cứu về tre trúc trên thế giới 2. Nghiên cứu chung về tre trúc Các nghiêu cứu về tre - trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng.

Nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn Độ (Gamble 1896)[15] trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre - trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007)[2]. Nghiên cứu về phân loại, phân bố Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4.

Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995)[14]. Theo Rao and Rao (1995), cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999)[17].1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới. Từ đó tới nay có nhiều loài tre trúc mới đã được tìm ra và phân loại trong đó có Việt Nam làm tăng số loài tre trúc đã được xác định.1: Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas 1995) Số Diện tích Nƣớc - Vùng Số Số Diện tích Nƣớc Số chi loài (ha) lãnh thổ chi loài (ha) Trung Quốc 26 300 2.000 Singapore 6 23 Nhật Bản 13 237 825.000 Papua New Guinea 26 Việt Nam 16 92* 1.000 Hàn Quốc 10 13 Inđônêxia 10 65 50.000 Phillipnines 8 54 Mađagaxca 11 40 Malaysia 7 44 Châu Mỹ 20 45 Thai Lan 12 41 1.000 Ôxtralia 4 4 (Nguồn: Theo Biswas(1995) và một số tác giả khác) n 6 Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mỹ.

Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố ở khu vực Châu á Thái Bình dương. Trên thế giới có 36.77 triệu ha rừng tre. Diện tích tre của châu Á là 23.6 triệu ha, trong đó Ấn độ 11.36 triệu ha, Trung Quốc 5.44 triệu ha, Indonesia 2.08 triệu ha, Lào 1.61 triệu ha, Myanmar 0.85 triệu ha, Việt Nam 0. Theo Đỗ Văn Bản (2005), mỗi năm thế giới tiêu thụ khoảng 1 triệu đến 2 triệu tấn măng.

Úc tiêu thụ hàng năm vào khoảng 4000 đến 12000 tấn măng thái mỏng nhập khẩu. Canada và châu Âu là những nước nhập khẩu chính của sản phẩm măng đóng hộp. Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malayxia và Singapore là những nước tiêu thụ nhiều măng tươi, măng ướp đông lạnh, măng tươi hấp hơi và măng hộp. Chỉ riêng một tỉnh ở Thái Lan đã chế biến 68.000 tấn măng luộc mỗi năm.

Không kể lượng măng tiêu thụ tại địa phương, Nhật Bản đưa ra thị trường 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu trên 100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Đài Loan có mức độ tiêu thụ măng như Nhật Bản, nhưng vẫn xuất khẩu sang Nhật khoảng 140. latiflorus và một lượng lớn măng Moso. Sau đây là diện tích trồng tre trúc của một số nước có diện tích tre trúc lớn: Trung Quốc diện tích trồng chuyên lấy măng khoảng 100.000 ha và trên 3 triệu ha rừng chuyên sản xuất thân Tre và kết hợp với cung cấp măng.

Số lượng loài Tre - Trúc có tới 500 loài và 50 chi. Trung Quốc thời điểm cách đây khoảng 50 - 60 năm, rừng thâm canh Tre - Trúc lấy măng trung bình đạt 25 – 30 tấn/ ha/ năm, có loài cho năng suất từ 60 - 100 tấn/ha/năm[19]. Đài Loan trồng khoảng 9000 ha Điềm trúc (D. latiflorus), hàng năm xuất khẩu trên 40.

Tổ chức INBAR năm 1994 đưa ra danh mục 19 loài Tre - Trúc được ưu tiên đưa vào phương hướng hành động của Quốc tế, 18 loài được ghi nhận là quan trọng trong đó 10 loài có thể kinh doanh lấy măng[21]. n 7 Thái Lan coi Tre - Trúc là nguồn đặc sản rừng quan trọng, là cây làm giàu cho người dân nhiều nơi (Thammincha, 1995). Thái Lan ứng dụng nhân giống loài Dendrocalamus asper vào sản xuất, vùng Đông Bắc Thái Lan trồng hàng 100 triệu cây nhằm phục vụ chế biến xuất khẩu nâng cao đời sống dân nghèo. Bamboo research and deverlopment in Thailand.

Thailand Royal Forest Dipartment)[15]. Ấn Độ cũng là một trong những nước có nguồn tài nguyên Tre - Trúc phong phú, có thể coi là nước đứng đầu về sử dụng Tre - Trúc làm nguyên liệu bột giấy. Trong số các nguyên liệu sử dụng cung cấp cho nguyên liệu bột giấy thì nguyên liệu từ Tre - Trúc chiếm 2/3. Cả nước có 80 nhà máy giấy trong đó có 30 - 35 nhà máy sử dụng nguyên liệu từ Tre - Trúc (China National Bamboo Research Center, 2001; 2008, Cultivation & integrated utilization on Bamboo in China , 2000)[13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu phân bố và sinh trưởng cây bương lông Dendrocalamus giganteus tại Tuần Giáo, Điện Biên là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc khám phá đặc điểm phân bố và quá trình sinh trưởng của loài cây bương lông tại khu vực Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về điều kiện môi trường phù hợp cho sự phát triển của cây, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố tự nhiên của loài. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực thực vật học, đặc biệt là các loài cây có giá trị kinh tế và sinh thái.

Để mở rộng kiến thức về các loài thực vật khác, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của loài cây bình vôi Stephania brachyandra tại vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Kạn, hoặc Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài lan Orchidaceae tại huyện Võ Nhai, Thái Nguyên. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và nhân giống vô tính loài cây đẳng sâm bắc cũng là một tài liệu đáng chú ý để tìm hiểu sâu hơn về các phương pháp nghiên cứu và bảo tồn thực vật.