Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005)[2], [8].
Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị. Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng.
Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nước trên thế giới có tre trúc và kể cả những nước sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc. Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) là một trong những loài tre lớn nhất Việt Nam phân bố tự nhiên ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc. Đây là loài tre đa tác dụng, thân cây lớn, ít cành nhánh có thể dùng làm nguyên liệu giấy, ván gép thanh, làm nhà,… ngoài ra măng Bương lông còn là thực phẩm được bà con nhân dân rất ưa chuộng. n 2 Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn Điện Biên.
Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24 m, đường kính gốc 20 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 - 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Cho đến nay nghiên cứu về cây Bương lông điện biên ở trong nước rất ít, đặc biệt là nghiên cứu về đặc điểm lâm học, sinh thái học, biện pháp kỹ thuật lâm sinh, nhân giống và chế biến sản phẩm. Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố đã thành công cho một số loài tre , đă ̣c biê ̣t là các loài thuô ̣c chi Dendrocalamus vào nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố và tổng kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Bương lông điện biên. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu đư ợc đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên’’. Mục tiêu nghiên cứu 1. Về lý luận - Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây Bương tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Về thực tiễn - Đề xuất được các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển cây Bương nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến cho tỉnh Điện Biên và các tỉnh lân cận.
Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa lý luận - Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn. n 3 - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. * Ý nghĩa thực tiễn - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng.
- Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài cây Bương. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu Thân cây Bương lông to, dài, có khả năng chống mối mọt cao nên thường được dùng làm cột buồm, làm nhà. Các dân tộc vùng cao dùng Bương lông làm máng dẫn nước, làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao, lá dùng để gói bánh.
Măng Bương to, ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp. Một bụi cây to có thể cho tới 180kg măng tươi/bụi/năm. Măng tươi của Bương lông được thị trường rất ưa chuộng vì có vị hơi đắng rất đặc biệt, măng đầu vụ có thể bán 3.000đ/kg; trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 15kg/măng. Có bụi một năm thu được 10 - 15 măng.
Một số hộ buôn bán còn mua măng tươi về sau đó luộc và bảo quản trong chum, vại to để 4 - 5 tháng sau mới bán cho được giá. Nghiên cứu về cây tre trúc ở trên thế giới và Việt Nam 2. Nghiên cứu về tre trúc trên thế giới 2. Nghiên cứu chung về tre trúc Các nghiêu cứu về tre - trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng.
Nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn Độ (Gamble 1896)[15] trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre - trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007)[2]. Nghiên cứu về phân loại, phân bố Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4.
Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995)[14]. Theo Rao and Rao (1995), cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999)[17].1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới. Từ đó tới nay có nhiều loài tre trúc mới đã được tìm ra và phân loại trong đó có Việt Nam làm tăng số loài tre trúc đã được xác định.1: Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas 1995) Số Diện tích Nƣớc - Vùng Số Số Diện tích Nƣớc Số chi loài (ha) lãnh thổ chi loài (ha) Trung Quốc 26 300 2.000 Singapore 6 23 Nhật Bản 13 237 825.000 Papua New Guinea 26 Việt Nam 16 92* 1.000 Hàn Quốc 10 13 Inđônêxia 10 65 50.000 Phillipnines 8 54 Mađagaxca 11 40 Malaysia 7 44 Châu Mỹ 20 45 Thai Lan 12 41 1.000 Ôxtralia 4 4 (Nguồn: Theo Biswas(1995) và một số tác giả khác) n 6 Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình Dương, Châu Phi và Châu Mỹ.
Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố ở khu vực Châu á Thái Bình dương. Trên thế giới có 36.77 triệu ha rừng tre. Diện tích tre của châu Á là 23.6 triệu ha, trong đó Ấn độ 11.36 triệu ha, Trung Quốc 5.44 triệu ha, Indonesia 2.08 triệu ha, Lào 1.61 triệu ha, Myanmar 0.85 triệu ha, Việt Nam 0. Theo Đỗ Văn Bản (2005), mỗi năm thế giới tiêu thụ khoảng 1 triệu đến 2 triệu tấn măng.
Úc tiêu thụ hàng năm vào khoảng 4000 đến 12000 tấn măng thái mỏng nhập khẩu. Canada và châu Âu là những nước nhập khẩu chính của sản phẩm măng đóng hộp. Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malayxia và Singapore là những nước tiêu thụ nhiều măng tươi, măng ướp đông lạnh, măng tươi hấp hơi và măng hộp. Chỉ riêng một tỉnh ở Thái Lan đã chế biến 68.000 tấn măng luộc mỗi năm.
Không kể lượng măng tiêu thụ tại địa phương, Nhật Bản đưa ra thị trường 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu trên 100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Đài Loan có mức độ tiêu thụ măng như Nhật Bản, nhưng vẫn xuất khẩu sang Nhật khoảng 140. latiflorus và một lượng lớn măng Moso. Sau đây là diện tích trồng tre trúc của một số nước có diện tích tre trúc lớn: Trung Quốc diện tích trồng chuyên lấy măng khoảng 100.000 ha và trên 3 triệu ha rừng chuyên sản xuất thân Tre và kết hợp với cung cấp măng.
Số lượng loài Tre - Trúc có tới 500 loài và 50 chi. Trung Quốc thời điểm cách đây khoảng 50 - 60 năm, rừng thâm canh Tre - Trúc lấy măng trung bình đạt 25 – 30 tấn/ ha/ năm, có loài cho năng suất từ 60 - 100 tấn/ha/năm[19]. Đài Loan trồng khoảng 9000 ha Điềm trúc (D. latiflorus), hàng năm xuất khẩu trên 40.
Tổ chức INBAR năm 1994 đưa ra danh mục 19 loài Tre - Trúc được ưu tiên đưa vào phương hướng hành động của Quốc tế, 18 loài được ghi nhận là quan trọng trong đó 10 loài có thể kinh doanh lấy măng[21]. n 7 Thái Lan coi Tre - Trúc là nguồn đặc sản rừng quan trọng, là cây làm giàu cho người dân nhiều nơi (Thammincha, 1995). Thái Lan ứng dụng nhân giống loài Dendrocalamus asper vào sản xuất, vùng Đông Bắc Thái Lan trồng hàng 100 triệu cây nhằm phục vụ chế biến xuất khẩu nâng cao đời sống dân nghèo. Bamboo research and deverlopment in Thailand.
Thailand Royal Forest Dipartment)[15]. Ấn Độ cũng là một trong những nước có nguồn tài nguyên Tre - Trúc phong phú, có thể coi là nước đứng đầu về sử dụng Tre - Trúc làm nguyên liệu bột giấy. Trong số các nguyên liệu sử dụng cung cấp cho nguyên liệu bột giấy thì nguyên liệu từ Tre - Trúc chiếm 2/3. Cả nước có 80 nhà máy giấy trong đó có 30 - 35 nhà máy sử dụng nguyên liệu từ Tre - Trúc (China National Bamboo Research Center, 2001; 2008, Cultivation & integrated utilization on Bamboo in China , 2000)[13].