Đặt vấn đề Hoa phong lan là một trong những loài hoa mang vẻ đẹp kiêu sa, kiều diễm nhưng cũng rất hoang dại. Loài hoa này mang trong mình những nét đẹp cuốn hút làm say mê biết bao người, hoa lan có hàng trăm loại khác nhau được phân bổ khắp mọi nơi trên thế giới. Và Việt Nam cũng là một quốc gia có nhiều loài hoa lan cư trú. Hoa Phong Lan tại Việt Nam khá đa dạng, chúng có nhiều chủng loại, hình dáng và màu sắc khác nhau.
Để phân chia chủng loại lan các nhà nghiên cứu dựa trên những đặc điểm sinh học của chúng, hiện nay phong lan Việt Nam có 2 loại chính là phong lan và địa lan. Nếu loài hoa phong lan sống dựa trên việc bám vào các thân cây chủ mọc trên núi cao hoặc trong rừng thì địa lan lại sống nhờ vào mặt đất, chúng mọc nhiều ở các khu vực gần bờ suối, sườn núi hoặc dưới những tán rừng lớn. Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường. Hoa lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt,có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong.
Hoa Lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi lan rất lớn và nặng gần một tấn. Hương lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả. Tại Thái lan có một loại Lan được giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một hãng sản xuất nước hoa danh tiếng. Hoa Lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có c 2 thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những giống lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm.
- Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Tại Việt Nam, lan mọc và sinh trưởng nhiều nhất tại Đà Lạt, nơi có khí hậu mát mẻ và ôn hòa quanh năm. Theo thống kê chưa chính xác số lượng lan tìm thấy tại Đà Lạt lên tới 200 loài và có 5 loài lan lần đầu tiên được phát hiện trên thế giới. Với người dân trồng lan tại Đà Lạt chúng được phân ra thành 3 loại là thổ lan, thạch lan và phong lan.
Thổ lan chính là lan đất, mọc chủ yếu ở bờ suối, nơi đất ẩm, thạch lan là lan đá sống chủ yếu ở các khe hay trên sườn núi đá có nhiều rêu xanh. Còn phong lan sinh trưởng cộng sinh trên những thân cây khỏe mạnh khác. Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ. Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bốcủa các loài lan (Orchidaceaespp) tại xã Cúc Đường, Thần Xa, Thượng Nung huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này.
Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau - Tìm hiểu đặc điểm sử dụng sự và hiểu biết của người dân tại khu vực nghiên cứu c 3 - Tìm hiểu đặc điểm hình thái sinh thái của các loài lan tại khu vực nghiên cứu - Đặc điểm phân bố của các loài lan từ đó đề xuât các giải pháp phát triển các loài lan tại khu vực nghiên cức - Xác định được tác động của con người tới các loài lan tại khu vực nghiên cứu và đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát triển loài. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài lan trong khu vực nghiên cứu.
- Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài lan nói riêng. - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.
Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài lan. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật [15] Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [10]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao.
Đặc biệt có nhiều loài lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới * Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự c 5 suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH.
Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu. Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên) (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983) (3). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài.
* Tổng quan về các loài lan - Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae spp) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae spp) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae). Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1.
Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Hoại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục.
c 6 Đối với các loài lan (phong lan và địa lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng. Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong lan Thạch hộc tía và lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư. Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg lan Thạch hộc tía. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới.
Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á,Nam Mĩ và Trung Mỹ. Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa.
Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng. Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực: + Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, Calanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus… + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya, Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis.