Đặt vấn đề Bên cạnh vấn đề trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc. chúng ta cần chú ý đến việc bảo tồn, khai thác và phát triển các nguồn gen quý hiếm. Sa mộc dầu là nguồn gen quí hiếm được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng động vật rừng nguy cấp quí hiếm của Nghị định số 32 của Chính phủ. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao.
Gỗ Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii) là loại bền, ít mối mọt, có hoa vân, màu sắc rất đẹp và rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà nên đang là đối tượng bị khai thác mạnh và đang đứng trước nguy cơ tiệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời. Qua các kết quả điều tra, nghiên cứu về đa dạng thực vật đã khẳng định, Sa mộc dầu có phân bố ở một số vùng thuộc Vườn Quốc gia Pù Mát. Tuy nhiên, các thông tin, các dẫn liệu khoa học và các nghiên cứu chuyên sâu về loài cây quý hiếm này chưa có nhiều. Để góp phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này, được sự nhất trí của khoa Lâm Nghiệp, ban giám hiệu nhà trường, thầy giáo hướng dẫn cùng sự tiếp nhận của ban quản lý vườn quốc gia Pù Mát - tỉnh Nghệ An, chúng em tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại vườn quốc gia Pù Mát - tỉnh Nghệ An”.
Mục đích nghiên cứu - Xác định được phân bố, nghiên cứu được đặc điểm lâm học của cây SMD tại vườn quốc gia Pù Mát. - Đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát triển SMD + Các giải pháp kỹ thuật + Các giải pháp về kinh tế, xã hội và chính sách của nhà nước. Mục tiêu của đề tài - Xác định được phân bố của sa mộc dầu tại vườn quốc gia Pù Mát: + Phân bố theo đai cao. + Phân bố theo địa lý.
n 2 - Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu: + Đặc điểm hình thái và vật hậu: Thân, lá, hoa/nón quả. + Đặc điểm sinh thái bao gồm: Hoàn cảnh rừng nơi Sa mộc dầu (SMD) phân bố, đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi SMD phân bố (mật độ, tổ thành, tầng thứ, thường gặp). + Đặc điểm tái sinh tự nhiên: Mật độ, cấu trúc tổ thành cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh, phân cấp theo chiều cao và cây có triển vọng, đặc điểm tái sinh. Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 1.
Ý nghĩa học tập - Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn và học hỏi được thêm nhiều kiến thức bổ ích từ bên ngoài trường học. - Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. - Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây quý hiếm SMD.
- Là cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp bảo tồn và phát triển SMD. Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở việc nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của SMD xác lập cụ thể các tiểu khu có SMD phân bố và giao cho các trạm quản lý bảo vệ rừng vườn quốc gia Pù Mát. Từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây SMD. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 2. Trong nước Tại Việt Nam Sa mộc dầu phân bố ở Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La và Hà Giang (Tây Côn Lĩnh). TẠi Hà Giang khi cơn sốt gỗ và tinh dầu rộ lên cách đây hơn 10 năm, việc khai thác trái phép đã đẩy loài này đến nguy cơ tiệt chủng. Năm 2013, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hà Giang nghiên cứu đánh giá phân bố và bảo tồn của SMD tại Hà Giang, kết quả nghiên cứu cho thấy hiện nay Hà Giang chỉ còn khoảng 80-90 cây SMD trưởng thành (15 tuổi trở lên).
Các khu vực phân bố SMD tại Hà Giang chủ yếu ở xã vùng cao núi đất của 3 huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản Bạ Gồm xã Lao Chải, Xin Chải, Cao Bồ, Thượng Sơn, Nậm Ty, Bản Péo, Ta Sủ Choong, Túng Sản, Nậm Dịch, Hồ Thầu và Nam Sơn. Ngoài ra còn một số cây SMD còn non do người dân tự thu hái hạt và trồng trong vườn nhà. Sau nhiều năm bị khai thác bán sang Trung Quốc thì SMD đã bị cạt kiệt, rất khó tìm. Hiện nay các cây SMD còn lại chủ yếu trong các vườn rừng của gia đình.
Ở nước ta đã có một số hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng, trong đó có các loài cây lá kim đã nhân giống hom thành công ở quy mô thí nghiệm có tỷ lệ ra rễ 60-100% là thông đuôi ngựa - P.masoniana (Lê Đình Khả, 1994,2003), thông caribê - P. nét đặc trưng để nhân giống các loài cây lá kim thành công là các hom giâm phải có cả ngọn thì cây hom mới có thể phát triển thành cây, độ ẩm giá thể giâm hom không lớn (dưới 50%), độ ẩm không khí lại phải lớn (hơn 90%), mùa giâm hom có hiệu quả cao thường là mùa lạnh, loại hom có tỷ lệ ra rễ cao nhất khi nhân giống hom là chồi vượt nửa hóa gỗ (dẫn theo Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006) [6]. Hiện nay sau khi nhân giống thành công thông đỏ bằng phương pháp in-vitro thì chương trình trồng rừng đại trà qui mô vài tram ha đã được triển khai tại Tây Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm hiện nay. n 4 Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của loài (Trần Văn Dương, 2001) [5].
Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An (Nguyễn Văn Sinh, 2009) cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) rất kém [12]. Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp. Đây là một vấn đề và là một thách thức lớn đang đặt ra trong công tác bảo tồn loài cây quý hiếm này. Quả (nón) Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra mà vẫn nằm nguyên ở trên nón.
Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón. Hiện tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu. Qua đây chúng ta có thể giải thích tại sao trong tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu tái sinh theo cụm hoặc theo đám. Một đặc điểm quan trọng là mật độ cây tái sinh bắt gặp nhiều nhất ở khu vực đất trống, nhiều ánh sáng hoặc nơi đất có sự thay đổi như: sạt lở, làm mới.
Điều này chứng tỏ cây tái sinh của SMD có nhu cầu ánh sáng rất cao, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến dưới tán rừng rất ít xuất hiện cây tái sinh của SMD. Bởi vì dưới tán rừng có SMD phân bố có độ tàn che rất cao, thiếu hụt ánh sáng rất lớn và làm cho cây tái sinh SMD không phát triển được. Nghiên cứu cho thấy các kích thước quần thể Sa mộc dầu trong VQG Pù Mát và khu vực bảo tồn Xuân Liên rất nhỏ ( dưới 100 cá thể). Trong chương trình 661 năm 2001 có trồng một quần thể SMD khoảng 500 cá thể trong rừng Tây Sơn (Nghệ An) (Nguyễn Minh Tâm và nnk.
Không quan sát thấy tái sinh tự nhiên tại rừng thứ sinh Khe Thơi, Bát Một và Tân Sơn (Nghệ An). Tuy nhiên có thấy tái sinh tại những vùng sạt lở tại khu vực Tam Hợp dọc theo đường Việt - Lào. Tình trạng bảo tồn của loài hiện nay thuộc nhóm bị đe dọa nghiêm trọng do đó đòi hỏi có biện pháp cấp thiết nhằm baảo ệ loài và sinh cảnh [1]. Trên thế giới Nghiên cứu khai thác và sử dụng bền vững nguồn gen thực vật là cơ sở quan trọng nhằm nâng cao năng suất và tính bền vững của sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, và xóa đói giảm nghèo.
Đa dạng di truyền hay biến dị di truyền là cơ sở quan trọng của việc cải tạo giống cây trồng, nâng cao năng suất chất lượng cây trồng. Tuy nhiên nhiều nguồn gen thực vật quan trọng cho sự phát triển của ngành nông lâm nghiệp trong tương lai đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp độ khác nhau. Báo cáo về tình trạng lưu giữ nguồn gen trên thế giới của tổ chức FAO (1996) tổng hợp từ các báo cáo quốc gia thành viên cho thấy tình hình suy thoái nguồn gen diễn ra rất nghiêm trọng trên tòa thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. quá trình xói mòn di truyền vẫn diễn ra nghiêm trọng.
Điều đáng quan tâm đó là việc mất mát nguồn gen không thể phục hồi được do sự suy giảm, sự tuyệt chủng của nhiều loài thực vật. Xuất phát từ thực tế đó mà kế hoạch hành động toàn cầu đầu tiên về bảo tồn, sử dụng và phát triển bền vững nguồn gen cây rừng đã được ủy ban tài nguyên di truyền nông nghiệp và lương thực của FAO chấp thuận vào tháng 4 năm 2013. các lĩnh vực ưu tiên chính của hành động bao gồm: Cải thiện giá trị và tiếp cận thông tin về nguồn gen cây rừng, phát triển chiến lược bảo tồn trên toàn thế giới, sử dụng phát triển và quản lý bảo vệ bền vững nguồn gen cây rừng, thiết lập và xem xet khuôn khổ pháp lý và các chính sách có liên quan để tích hợp các vấn đề lớn liên quan đến quản lý bền vững nguồn gen cây rừng, và tăng cường năng lực thể chế và con người. Các tài liệu nghiên cứu gần đây của tổ chức bảo tồn thế giới (IUCN) cho thấy ở phạm vi toàn cầu có khoảng 13% số loài thực vật trên thế giới đang đứng trước nguy cơ tiệt chủng, đe dọa tiềm năng sử dụng của nhân loại trong tương lai.