ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình đê sông đồng bằng Bắc Bộ 1. Tổng quan về hệ thống đê sông đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam có gần 8.000 km đê, trong đó có gần 6.000 km đê sông và 2. Riêng đê sông chính có 3.000 km đê biển quan trọng.
Có gần 600 kè các loại và 3. Trong đó, riêng hệ thống đê sông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có tổng chiều dài khoảng 5. Trong đó: Đê từ cấp III đến cấp đặc biệt có chiều dài khoảng 2. Bao gồm - Hệ thống đê sông Hồng có tổng chiều dài là 1.400 km, bao gồm: + Đê cấp đặc biệt (đê nội thành Hà Nội) : 37,7 km + Đê cấp I : 382,8 km + Đê cấp II : 376,9 km + Đê cấp III : 608,4 km - Hệ thống đê sông Thái Bình có chiều dài là 621,5 km gồm + Đê cấp I : 73,8 km + Đê cấp II : 126 km + Đê cấp III : 421,6 km - Hệ thống sông Mã, sông Cả có tổng chiều dài là 357,6 km, gồm: chiều dài đê thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 292,2 km và chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4 km; - Hưng Yên là một tỉnh thuộc trung tâm đồng bằng sông Hồng, có 2 con đê lớn là đê sông Hồng và đê sông Luộc.
Đây là công trình dồn tụ nhiều công sức, trí tuệ của nhiều thế hệ. Toàn bộ đê sông Hồng là đê cấp I và có chiều dài là 59 Km, đê 4 sông Luộc dài khoảng 21 Km. Đê có bề mặt rộng từ 5÷ 6m. Hiện trạng đê sông và các sự cố đã xảy ra 1.Hiện trạng [10] Địa hình hai ven đê dọc theo chiều dài các tuyến lúc đầu là kiểu địa hình bãi bồi trong ngoài bằng nhau, mỗi khi có lũ cao các bãi ngoài đê được phủ thêm lớp phù sa mới làm bề mặt các bãi ngoài khác được nâng cao hơn phía đồng.
Bề mặt địa hình ven đê sông phía đồng ít thay đổi nhưng do tác động của con người theo thời gian bị phân cắt chủ yếu do việc lấy đất làm gạch, đào ao …tạo ra nhiều ao, hồ, thùng đấu, đầm lầy …Địa hình ven đê sông thay đổi theo thời gian tùy vào chế độ dòng chảy và lượng phù sa các bãi bồi, có nơi được tôn cao và mở rộng, có nơi bị bào mòn xói lở. Như đoạn đê huyện Kim Động: xã Phú Thịnh, Mai Động (Km 109 ÷ Km110+500), xã Ngọc Thanh (Km 111+200 đến Km 115 + 500) phía đồng. Các tuyến đê từ lâu được đắp bằng phương pháp thủ công với công cụ rất thô sơ và kỹ thuật đơn giản, thân đê có nhiều lỗ rỗng. Phần lớn các tuyến đê được đắp tôn cao và áp trúc qua nhiều thời kỳ bằng nhiều loại đất không đồng chất, đặc biệt riêng nền đê từ khi hình thành cho đến nay hầu như chưa được xử lý triệt để.
Từ đó thấy thân đê còn nhiều tồn tại, ẩn họa: tổ mối, khe nứt, lỗ rỗng, …gây sạt trượt, thẩm lậu trong mùa lũ. Mặt khác, đắp đê trên nền tự nhiên không qua khảo sát, xử lý, nhiều hồ, ao đầm nằm sát chân đê. Vì thế về mùa lũ hiện tượng thấm qua nền tạo thành sự cố mạch sủi, hồ sủi lớn, giếng phun nước… gây xói mòn nền đê là nguy cơ có thể dẫn đến vỡ đê. Trong vòng 100 năm qua, hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình đã xuất hiện 26 trận lũ lớn.
Các trận lũ lớn đa số xảy ra vào tháng 8, nhằm vào thời kỳ cao điểm của mùa mưa bão. Lịch sử lũ lớn nhất là năm 1971, mực nước lũ năm 1971 cao hơn mặt đất đồng ruộng ven đê từ 5 đến 10m. Mực nước sông Hồng ngày 20/8 lên đến 14,3m tại Hà Nội (cao hơn mực nước báo động III đến 2,63m). Năm 1945 đã vỡ 79 đoạn đê, làm ngập 260.
Năm 1957 vỡ đê Mai Lâm – sông Đuống, lũ năm 5 1971 làm vỡ 3 đoạn đê lớn: Cống thôn, Nhất Trai, Khê Thượng làm ngập 200. Ngoài ra, lũ năm 1985 gây vỡ đê Biểu Thượng – Hà Nam, năm 1986 Vân Môn – Phúc Thọ - Hà Tây, năm 1996 vỡ đê bao Thanh Hà, sông Thái Bình-Hải Dương.Một số sự cố đối với đoạn đê tả sông Hồng qua tỉnh Hưng Yên [9] Theo tài liệu thống kê của Chi cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão tỉnh Hưng Yên, một số hư hỏng được thống kê như sau: - Km 85+700 – Năm 1996 xuất hiện 3 mạch sủi cách chân đê 27m; - Km 89+070 (Bình Minh- Khoái Châu) – Năm 1995 xuất hiện 6 mạch sủi tại mặt ruộng, kích thước bãi sủi 2x1,5m; - Km 105+830 ÷ Km 105+880 (Nhuế Dương đê ngoài Nghi Xuyên) – Năm 1998 xuất hiện 1 mạch sủi nước trong; - Km 111+100 – Năm 1998 mái đê phía đồng ướt sũng, phía đồng từ chân đê trở ra 5-7 m mặt đất bùng nhùng bão hòa nước; - Km 82- Km82+500 (thị trấn Văn Giang) – Tháng 9/2001 xuất hiện cung nứt trượt sâu mái đê phía sông - Km 90+200 (Khoái Châu) – Năm 1995 xuất hiện 2 mạch sủi tại mặt ruộng; - Km 108+333 (Kim Động) – Năm 1996 sượt trạt mái đê phía đồng; - Km 107+520– Năm 1995 xuất hiện 3 bãi sủi tại mặt ruộng, kích thước bãi sủi 2.5x3m; - Km 84 ÷ Km84+20– Năm 1995 Sập tổ mối dài 6m, rộng 3m, sâu tới +8m; - Km 111+230– Năm 1985 Lún mặt đường nhựa, thẩm lậu nước đục; - Km 109 + 400 – Năm 1985 Sạt trượt mái đê phía đồng xuất hiện nhiều mạch sủi cách chân đê 15-40m; - Km 108 + 900 – Năm 1995 xuất hiện và mạch sủi lớn tại mặt ruộng; - Km 111 – Năm 1998 xuất hiện và một mạch sủi cách chân đê 42m; 6 - Km 113 + 630 – Năm 1985 xuất hiện và một bãi sủi lớn tại mặt ruộng. - Km 112+550 – Cách chân đê 35m có 1 bãi sủi nước đục ở ruộng lúa. Cấu trúc địa chất các lớp đất ở thân đê và nền đê [10] Cấu trúc thân đê – nền dưới thân đê có đặc điểm địa chất như sau: * Thân đê: Quá trình hình thành thân đê do được đắp trúc qua nhiều thời kỳ khác nhau chủ yếu đắp bằng thủ công, đất đắp chủ yếu là đất bão hòa nước.
Song do đắp bằng thủ công nên thân đê có nhiều lỗ rỗng, theo thời gian chúng dần tự cố kết. Hiện tại vẫn đang trong quá trình cố kết. Xuống sâu hơn độ ẩm tăng dần trạng thái chuyển dần từ dẻo cứng sang dẻo mềm tới dẻo chảy. Độ rỗng giảm dần độ bão hòa tăng dần.
* Nền đê có Nguồn gốc trầm tích Đệ Tứ thuộc Thống Holoxen, bậc dưới – giữa - Hệ tầng Hải Hưng (QIV1-2 hh) – Thống Holoxen, bậc trên – Hệ tầng Thái Bình (QIV3 tb) Trần tích hệ tầng Hải Hưng trong vùng nghiên cứu được chia thành 2 phụ hệ tầng. - Phụ hệ tầng dưới (lbQIV1-2hh1) Trầm tích phụ hệ tầng Hải Hưng dưới chính là các thành tạo thuộc tầng Giảng Võ trước đây. Chúng có nguồn gốc hồ - đầm lầy, được tạo thành với thời kỳ trước biển tiến. Trong vùng nghiên cứu, trầm tích của phụ hệ tầng này phân bố rất hạn chế ở phía đông nam, chủ yếu bên tả ngạn sông Hồng, nằm ở độ sâu 5m đến 7m, phủ trực tiếp lên trầm tích aluvi hệ tầng Vĩnh Phúc.
Thành phần trầm tích của chúng chủ yếu là sét, bột lẫn hữu cơ mầu xám, xám đen, có chỗ là than bùn, chiều dầy 2 ÷ 12m. - Phụ hệ tầng giữa (mQIV1-2hh2) Các trầm tích thuộc phụ hệ tầng này trước đây thuộc tầng Đống Đa. Chúng có nguồn gốc biển, phân bố ít phổ biến và hầu như không lộ ra, phạm vi phân bố chủ yếu ở phía Đông Nam ở độ sâu từ 5m đến 8m. Thành phần trầm tích gồm sét, bột 7 màu xám xanh, xanh lơ, xanh xám, ở đáy có lẫn ít hữu cơ, chiều dầy 0,5 ÷ 2m.
- Phụ hệ tầng trên (bQIV1-2hh2) Trầm tích có nguồn gốc đầm lầy sau biển tiến và hầu như không gặp hoặc đôi khi gặp ở vùng có địa hình cao ven rìa. Thành phần bao gồm than bùn, sét bột lẫn mùn thực vật chưa phân hủy hết màu nâu đen và khi khô nhẹ xốp. Thực vật bị mùn hóa, phân hủy kém. Độ sâu phân bố 0.
Trầm tích thuộc hệ tầng Thái Bình là những trầm tích trẻ nhất có diện phân bố rộng rãi trên bề mặt vùng nghiên cứu. Chúng có nguồn gốc sông, sông lũ, hồ đầm lầy và được chia thành hai phụ hệ. + Phụ hệ tầng dưới (a,apQIV3tb1) Trầm tích phụ hệ tầng dưới được chia thành 4 lớp theo sự giảm dần về kích thước hạt thứ tự từ dưới lên: - Tập 1: gồm cuội nhỏ, sỏi, cát, lẫn ít bột, sét mầu xám nâu nhạt, nguồn gốc sông lũ, chiều dày 1 ÷ 5m; - Tập 2: gồm cát, bột màu xám nhạt lẫn ít hữu cơ, nguồn gốc sông, chiều dày biến đổi từ 5 ÷ 30m; - Tập 3: gồm bột, sét lẫn ít hữu cơ màu nâu, xám nhạt chứa phổ phần nước ngọt, chiều dày thay đổi từ 1 ÷ 3m. Tập này cũng có nguồn gốc sông; - Tập 4: gồm bột, sét lẫn vật chất hữu cơ màu nâu xám nhạt, có chứa vỏ ốc xoắn hiện đại.
Tập này có nguồn gốc tích tụ sông – hồ đầm lầy dạng sót, chiều dày khoảng 1m và rất ít gặp trong vùng nghiên cứu. Nhìn chung, trong số các tập trầm tích của phụ hệ tầng Thái Bình dưới, tập 2 và 3 là những tập phân bố khá phổ biến trong vùng, đặc biệt ở phía Đông Nam. Tại đây, tổng chiều dày của chúng lên đến 31m. + Phụ hệ tầng trên (aQIV3tb2).
Các trầm tích của phụ hệ tầng Thái Bình trên có nguồn gốc sông trẻ nhất. Chúng là các bồi tích hiện đại bãi bồi và thềm sông. Thành phần trầm tích gồm bột, 8 cát, sét, màu nâu nhạt chứa ốc, hến, trai nước ngọt và có cả mùn thực vật, chiều dày 2 ÷ 15m. Trầm tích của phụ hệ tầng được chia thành hai tập.
- Tập 1: Thành phần là cuội sỏi, cát lẫn ít bột sét màu vàng xám. Bề dày tập biến đổi từ 3 đến 15m; - Tập hai: thành phần là bột sét màu nâu nhạt chứa ốc, hến, trai nước ngọt và mùn thực vật. Khoáng vật sét chủ yếu là Kaolinit, Hydromica và Clorit. Bề dày của tập biến đổi từ 2 ÷ 5m.
Qua quá trình hình thành địa chất khá phức tạp cho nên nền dưới yếu, đất có độ rỗng khá cao, độ ẩm lớn.