Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò huyết mạch trong cơ cấu nông nghiệp, cung cấp từ 70% đến 80% tổng sản lượng thịt tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, đồng thời tạo nguồn phân bón hữu cơ quan trọng cho ngành trồng trọt. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của nghề chăn nuôi lợn thường xuyên bị đe dọa bởi các loại dịch bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng. Trong nhóm bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa, bệnh giun kết hạt do các loài giun tròn thuộc giống Oesophagostomum ký sinh ở ruột già gây tác hại nghiêm trọng: làm lợn rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy mạn tính xen kẽ táo bón, thiếu máu, suy nhược, chậm lớn và có thể gây tử vong ở thể nặng.

Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện miền núi Đồng Hỷ nói riêng, phong trào chăn nuôi lợn phát triển mạnh theo nhiều quy mô từ hộ gia đình nhỏ lẻ đến trang trại. Mặc dù vậy, điều kiện chuồng trại, nhận thức vệ sinh thú y và công tác phòng trừ ký sinh trùng của người dân còn nhiều hạn chế, khiến nguy cơ phát tán và tái nhiễm mầm bệnh luôn ở mức cao. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Chăn nuôi Thú y của tác giả Lý Văn Bằng (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2015) đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp., triệu chứng, bệnh tích của lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị".

Mục tiêu tổng quát của đề tài là khảo sát thực trạng ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi, xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh trên đàn lợn, nghiên cứu bệnh lý lâm sàng và thử nghiệm hiệu lực thuốc tẩy trừ nhằm đề xuất quy trình phòng trị hiệu quả. Khóa luận triển khai 5 nội dung nghiên cứu cụ thể:

  1. Điều tra thực trạng áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh ký sinh trùng đường ruột cho lợn tại các hộ chăn nuôi thuộc huyện Đồng Hỷ.
  2. Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. trên đàn lợn theo địa bàn phân bố và theo nhóm lứa tuổi.
  3. Đánh giá mức độ ô nhiễm trứng giun Oesophagostomum spp. trong môi trường chuồng nuôi (nền chuồng, đất xung quanh, đất vườn bãi), nguồn thức ăn (thức ăn tinh, thức ăn thô xanh) và nguồn nước uống của lợn.
  4. Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh giun kết hạt trên thực địa.
  5. Thử nghiệm xác định hiệu lực, độ an toàn của một số loại thuốc tẩy giun và đánh giá biện pháp phòng trừ bệnh tổng hợp trên đàn lợn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Trứng, ấu trùng và giun tròn trưởng thành thuộc giống Oesophagostomum spp.; lợn nuôi ở các lứa tuổi mắc bệnh giun kết hạt; các mẫu ngoại cảnh gồm cặn nền chuồng, đất, thức ăn thô xanh, thức ăn tinh và nước uống.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại các hộ gia đình và trang trại chăn nuôi lợn tại 3 xã đại diện (Hợp Tiến, Cây Thị, Tân Lợi) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; công tác phân tích, xét nghiệm mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 08/12/2014 đến ngày 24/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phân loại học

Giun kết hạt ở lợn do hai loài chủ yếu thuộc giống Oesophagostomum Molin, 1861 gây ra là Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803 và Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925. Vị trí phân loại động vật học của giống này thuộc họ Trichonematidae, phân bộ Strongylata, bộ Rhabditida, lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes.

Vòng đời của Oesophagostomum spp. là chu kỳ phát triển trực tiếp không cần vật chủ trung gian. Trứng giun được lợn bệnh thải ra môi trường qua phân, ở điều kiện thuận lợi (25–27°C, ẩm độ cao) sau 10–17 giờ nở thành ấu trùng giai đoạn 1 (L1), qua hai lần lột xác trong 7–8 ngày để thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn 3 (L3). Khi lợn nuốt phải ấu trùng L3 lẫn trong thức ăn hoặc nước uống, ấu trùng chui sâu vào niêm mạc ruột già (kết tràng, manh tràng) tạo nên các nốt sưng viêm bọc kín (u kén/kết hạt). Sau giai đoạn lột xác thành ấu trùng giai đoạn 4 (L4), chúng phá vỡ u kén chui ra xoang ruột già, lột xác lần thứ tư để thành giun trưởng thành ký sinh và đẻ trứng. Thời gian hoàn thành vòng đời dao động từ 32–43 ngày (O. dentatum) đến 50 ngày (O. longicaudum). Cơ chế gây bệnh phối hợp giữa tác động cơ giới phá hủy niêm mạc ruột tạo hạt hoại tử, tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng/hút máu và tác động tiết độc tố gây viêm ruột cata mạn tính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp dịch tễ học thú y kết hợp khảo sát thực địa và phân tích xét nghiệm ký sinh trùng học:

  • Phương pháp lấy mẫu: Áp dụng kỹ thuật lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Mẫu phân tươi được thu thập trực tiếp từ lợn ở các lứa tuổi khác nhau kèm phiếu ghi nhận dịch tễ. Mẫu cặn nền chuồng và mẫu đất xung quanh chuồng lấy tại 4 góc và điểm trung tâm (100 g/mẫu gộp). Mẫu đất vườn bãi trồng rau thức ăn lấy theo định mức 1 mẫu/10 m². Mẫu thức ăn thô xanh lấy tại 5 điểm (chia đều lấy 1/5 mẫu phân tích). Mẫu thức ăn tinh lấy tại 6 điểm trộn hình nón lấy 150 g. Mẫu nước uống lấy 0,5 lít sau khi khuấy đều.
  • Phương pháp xét nghiệm mẫu:
    • Định tính trứng giun trong phân: Dùng phương pháp nổi Fülleborn với dung dịch muối ăn (NaCl) bão hòa.
    • Định lượng trứng giun (cường độ nhiễm): Sử dụng buồng đếm McMaster để xác định số lượng trứng trên một gam phân (EPG - Eggs Per Gram). Phân loại cường độ nhiễm thành 3 mức: Nhiễm nhẹ (≤ 700 EPG), Nhiễm trung bình (> 700 – 1500 EPG), Nhiễm nặng (> 1500 EPG).
    • Mẫu thức ăn thô xanh và mẫu nước uống: Rửa trôi, lắng cặn trong 2 giờ, gạn nước và ly tâm cặn bằng phương pháp Darling.
    • Mẫu thức ăn tinh: Kiểm tra trứng giun bằng phương pháp Gefter.
  • Phương pháp xác định thể trọng và thử nghiệm thuốc:
    • Khối lượng lợn được tính trực tiếp bằng cân hoặc đo gián tiếp qua công thức: $$P_{\text{kg}} = 87{,}5 \times VN^2 \times DT$$ (với $P$ là khối lượng tính bằng kg, $VN$ là vòng ngực tính bằng mét, $DT$ là chiều dài thân tính bằng mét).
    • Đánh giá hiệu lực thuốc tẩy giun sau 15 ngày dùng thuốc bằng phương pháp Fülleborn: Thuốc có hiệu lực triệt để khi phân âm tính hoàn toàn với trứng giun; có hiệu lực không triệt để khi số lượng trứng giảm rõ rệt; không hiệu lực khi số lượng trứng không đổi.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm và điều tra dịch tễ được phân tích thống kê sinh học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2008), xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày vị trí kinh tế của ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam, nêu bật thực trạng tổn thất kinh tế do các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh giun kết hạt do Oesophagostomum spp. gây ra trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ học và ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng khuyến cáo phòng trừ bệnh cho hộ chăn nuôi tại huyện Đồng Hỷ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống các nghiên cứu trong nước và quốc tế về giống giun tròn Oesophagostomum:

  • Hệ thống hóa vị trí phân loại, đặc điểm hình thái học, cấu tạo cơ quan tiêu hóa, sinh dục của O. dentatum và O. longicaudum.
  • Trình bày chi tiết cơ chế sinh học vòng đời trực tiếp, điều kiện phát triển và sức đề kháng của trứng, ấu trùng L3 ngoài môi trường tự nhiên (chịu được nhiệt độ thấp đến -19°C đến -29°C trong 10 ngày, sống sót ngoài tự nhiên tới 1 năm nhưng bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45–50°C hoặc qua quá trình ủ phân nhiệt sinh học từ 7–14 ngày).
  • Cơ chế bệnh sinh, bệnh lý lâm sàng qua hai giai đoạn: giai đoạn cấp tính do ấu trùng tạo u kén ở hạ niêm mạc ruột và giai đoạn mạn tính do giun trưởng thành ký sinh trong xoang ruột già.
  • Tổng quan các nghiên cứu dịch tễ trong nước (Trịnh Văn Thịnh, Phan Thế Việt, Bùi Lập, Nguyễn Thị Kim Lan, Phạm Sỹ Lăng, Phan Lục) và trên thế giới (Skrjabin, Miaxnikova, Archie Hunter, Kagira), cùng các hoạt chất phòng trị ký sinh trùng phổ biến như Levamisole, Ivermectin, Phenothiazin, Mebendazol.

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể quy trình bố trí thu thập mẫu tại 3 xã (Hợp Tiến, Cây Thị, Tân Lợi) thuộc huyện Đồng Hỷ, các vật liệu và dụng cụ nghiên cứu (kính hiển vi quang học, buồng đếm McMaster, hóa chất NaCl). Mô tả chi tiết kỹ thuật thu mẫu phân tầng, quy trình xét nghiệm phân (Fülleborn, McMaster), xét nghiệm đất, nước, thức ăn (Darling, Gefter), công thức tính thể trọng lợn, tiêu chuẩn phân cấp cường độ nhiễm EPG, phương pháp thử nghiệm thuốc tẩy giun và mô hình bố trí lô thí nghiệm so sánh đối chứng trên thực địa.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

1. Thực trạng công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng cho lợn

Khảo sát 199 hộ chăn nuôi tại 3 xã thuộc huyện Đồng Hỷ cho thấy tỷ lệ áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và vệ sinh phòng bệnh ký sinh trùng còn nhiều khoảng trống:

Địa điểm (xã) Số hộ điều tra Có chuồng trại (%) Chuồng trại hợp vệ sinh xây dựng (%) Vệ sinh tốt chuồng nuôi (%) Thu gom phân ủ (%) Tẩy giun tròn định kỳ (%)
Hợp Tiến 65 100,00 58,46 40,00 23,08 53,85
Cây Thị 76 97,37 47,37 21,05 6,58 34,21
Tân Lợi 58 98,28 62,07 39,66 27,59 41,38
Tính chung 199 98,49 55,27 32,66 18,09 42,71

Số liệu phản ánh phần lớn các hộ có chuồng nuôi (98,49%) nhưng tỷ lệ chuồng đạt tiêu chuẩn vệ sinh xây dựng chỉ đạt 55,27%. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ thực hiện thu gom phân ủ nhiệt sinh học rất thấp, chỉ đạt 18,09% (thấp nhất tại xã Cây Thị với 6,58%), và tỷ lệ hộ định kỳ tẩy giun tròn cho lợn chỉ đạt 42,71%.

2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn

Xét nghiệm 375 mẫu phân lợn tại 3 xã, kết quả ghi nhận 102 mẫu dương tính với trứng giun Oesophagostomum spp., tỷ lệ nhiễm trung bình là 27,20%:

Địa điểm (xã) Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Nhiễm nhẹ ≤ 700 EPG (%) Nhiễm trung bình > 700–1500 EPG (%) Nhiễm nặng > 1500 EPG (%)
Hợp Tiến 114 37 32,46 64,86 27,03 8,11
Cây Thị 155 41 26,45 60,98 36,58 2,44
Tân Lợi 106 24 22,64 58,33 29,16 12,51
Tính chung 375 102 27,20 61,39 30,92 7,69

Về cường độ nhiễm, lợn mắc bệnh chủ yếu ở mức độ nhẹ chiếm 61,39% (63/102 con), mức độ trung bình chiếm 30,92% (32/102 con) và mức độ nặng chiếm 7,69% (7/102 con).

Khảo sát theo lứa tuổi cho thấy tỷ lệ và cường độ nhiễm giun Oesophagostomum spp. tăng lũy tiến rõ rệt theo độ tuổi của lợn:

Lứa tuổi (tháng) Số kiểm tra (con) Số nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Nhiễm nhẹ (%) Nhiễm trung bình (%) Nhiễm nặng (%)
$\le$ 2 tháng 160 27 16,87 66,66 29,63 3,71
> 2 – 4 tháng 60 16 26,66 75,00 18,75 6,25
> 4 – 6 tháng 129 44 34,10 61,36 31,82 6,82
> 6 tháng 26 15 57,69 40,00 46,67 13,33
Tính chung 375 102 27,20 60,76 31,71 7,53

Lợn dưới 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (16,87%), trong khi lợn trên 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (57,69%) và tỷ lệ nhiễm nặng cũng cao nhất (13,33%).

3. Mức độ ô nhiễm trứng giun Oesophagostomum spp. trong môi trường chăn nuôi

Kết quả kiểm tra 246 mẫu môi trường chuồng trại tại 3 xã ghi nhận:

  • Cặn nền chuồng: Tỷ lệ nhiễm chung là 14,22% (35/246 mẫu), cao nhất tại xã Hợp Tiến (23,17%), tiếp đến là Tân Lợi (15,85%) và Cây Thị (3,65%).
  • Đất xung quanh chuồng nuôi: Tỷ lệ nhiễm chung là 8,12% (20/246 mẫu), cao nhất tại Hợp Tiến (12,19%), Tân Lợi (7,31%) và Cây Thị (4,87%).
  • Đất vườn, bãi trồng cây thức ăn: Tỷ lệ nhiễm chung là 4,87% (12/246 mẫu), cao nhất tại Hợp Tiến (7,31%), Tân Lợi (4,87%) và Cây Thị (2,43%).

4. Mức độ ô nhiễm trong thức ăn và nước uống

  • Thức ăn tinh: Xét nghiệm 66 mẫu thức ăn tinh chỉ phát hiện 1 mẫu nhiễm trứng giun (tỷ lệ 1,51%, xuất hiện tại xã Hợp Tiến 3,84%), nguyên nhân do dụng cụ chứa đựng tại hộ không đảm bảo vệ sinh.
  • Thức ăn thô xanh: Xét nghiệm 102 mẫu rau xanh, bèo cho lợn ghi nhận 26 mẫu nhiễm trứng giun, tỷ lệ nhiễm lên tới 25,49% (Cây Thị cao nhất với 33,33%, Tân Lợi 28,57%, Hợp Tiến 16,66%).
  • Nguồn nước uống: Xét nghiệm 85 mẫu nước uống cho lợn phát hiện 16 mẫu nhiễm trứng giun (tỷ lệ 18,82%), trong đó Cây Thị chiếm 21,43%, Tân Lợi 18,18% và Hợp Tiến 11,14%. Mức độ ô nhiễm ở nguồn nước hở (sông, suối, ao hồ) cao hơn đáng kể so với nguồn nước giếng khoan/giếng khơi.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Tổng hợp toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, đánh giá mức độ nguy cơ lây nhiễm giun kết hạt trên địa bàn huyện Đồng Hỷ và đưa ra các đề xuất giải pháp kỹ thuật, vệ sinh thú y cho cơ quan quản lý nông nghiệp cùng người chăn nuôi địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính của đề tài

  1. Đã cung cấp bức tranh dịch tễ học toàn diện về bệnh giun kết hạt do Oesophagostomum spp. tại huyện Đồng Hỷ: Tỷ lệ nhiễm chung trên đàn lợn là 27,20%, trong đó nhiễm nhẹ chiếm ưu thế (61,39%), trung bình chiếm 30,92% và nhiễm nặng chiếm 7,69%. Tỷ lệ nhiễm tỷ lệ thuận với lứa tuổi của lợn (tăng từ 16,87% ở lợn $\le$ 2 tháng tuổi lên 57,69% ở lợn > 6 tháng tuổi).
  2. Xác định các đường truyền lây mầm bệnh chính qua việc định lượng tỷ lệ ô nhiễm trứng giun ở ngoại cảnh: Nền chuồng nuôi (14,22%), đất quanh chuồng (8,12%), đất bãi trồng thức ăn (4,87%), thức ăn thô xanh (25,49%) và nguồn nước uống hở (18,82%).
  3. Khảo sát chỉ ra mắt xích vệ sinh yếu nhất tại các hộ chăn nuôi là khâu xử lý phân (chỉ 18,09% số hộ thu gom ủ phân) và tẩy giun định kỳ (chỉ 42,71% số hộ thực hiện).

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất

  • Xử lý chất thải: Tuyệt đối không dùng phân lợn tươi hoặc nước rửa chuồng chưa qua xử lý để tưới cho cây thức ăn và rau xanh. Áp dụng kỹ thuật ủ phân nhiệt sinh học để tiêu diệt triệt để trứng và ấu trùng giun trong vòng 7–14 ngày.
  • An toàn thức ăn và nước uống: Thức ăn thô xanh, rau bèo phải được rửa sạch trước khi cho lợn ăn; thức ăn tinh cần bảo quản trong bao bì, dụng cụ kín sạch. Ưu tiên sử dụng nước giếng khoan, giếng đào hợp vệ sinh làm nước uống cho đàn lợn, hạn chế tối đa việc sử dụng trực tiếp nước ao, hồ, sông, suối.
  • Vệ sinh chuồng trại và tẩy giun định kỳ: Định kỳ vệ sinh, khử trùng tiêu độc nền chuồng và khu vực xung quanh; lập lịch tẩy giun định kỳ 3–4 lần/năm cho đàn lợn bằng các loại thuốc tẩy giun đặc hiệu theo đúng hướng dẫn chuyên môn thú y.

Đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học thực nghiệm có hệ thống đầu tiên về tình hình ô nhiễm trứng giun tròn Oesophagostomum spp. và dịch tễ bệnh giun kết hạt ở lợn trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả là căn cứ thực tiễn giúp Trạm Thú y và Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện xây dựng các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật an toàn sinh học trong chăn nuôi nông hộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được triển khai trong thời gian 5 tháng (tháng 12/2014 – tháng 5/2015), phạm vi lấy mẫu tập trung tại 3 xã thuộc huyện Đồng Hỷ nên chưa bao quát biến động dịch tễ học theo chu kỳ bốn mùa trong năm và các tiểu vùng địa hình sinh thái khác nhau của toàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi diễn biến tỷ lệ nhiễm qua các mùa (đặc biệt so sánh giữa vụ Hè – Thu và Đông – Xuân), mở rộng nghiên cứu định lượng biến đổi chỉ tiêu sinh lý máu (hồng cầu, bạch cầu, huyết sắc tố) và đánh giá chi tiết bệnh tích vi thể trên các u kén ở ruột lợn mắc bệnh tự nhiên.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y cơ sở, cán bộ khuyến nông và các chủ trang trại, gia trại chăn nuôi lợn.
  • Nội dung giá trị nhất: Quy trình thu thập và phương pháp xét nghiệm phân tầng mẫu ngoại cảnh (đất, nước, thức ăn xanh) tìm trứng giun tròn; phương pháp đếm trứng bằng buồng đếm McMaster phân cấp mức độ nhiễm EPG; hệ thống số liệu dịch tễ học thực địa phục vụ công tác chẩn đoán và lập kế hoạch an toàn sinh học phòng trừ giun sán đường tiêu hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. trên đàn lợn tại huyện Đồng Hỷ là bao nhiêu và phân bố theo xã như thế nào?
Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt chung trên đàn lợn tại huyện Đồng Hỷ là 27,20% (102/375 lợn kiểm tra). Trong đó, xã Hợp Tiến có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 32,46% (37/114 con), tiếp theo là xã Cây Thị đạt 26,45% (41/155 con) và thấp nhất là xã Tân Lợi đạt 22,64% (24/106 con).

2. Mức độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn biến đổi như thế nào theo lứa tuổi?
Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi của lợn: lợn $\le$ 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 16,87%; lợn từ > 2–4 tháng tuổi là 26,66%; lợn từ > 4–6 tháng tuổi là 34,10%; và lợn trên 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 57,69% kèm theo tỷ lệ nhiễm nặng cao nhất (13,33%).

3. Khâu vệ sinh phòng bệnh nào bị xem nhẹ nhất tại các hộ chăn nuôi được khảo sát?
Biện pháp thu gom phân để ủ nhiệt sinh học bị xem nhẹ nhất, chỉ có 18,09% số hộ thực hiện (36/199 hộ điều tra), đặc biệt tại xã Cây Thị chỉ có 6,58% số hộ áp dụng. Ngoài ra, tỷ lệ hộ vệ sinh tốt chuồng nuôi chỉ đạt 32,66% và tỷ lệ định kỳ tẩy giun tròn chỉ đạt 42,71%.

4. Nguồn thức ăn và môi trường nào có nguy cơ truyền lây trứng giun kết hạt cao nhất cho lợn?
Thức ăn thô xanh có tỷ lệ ô nhiễm trứng giun cao nhất trong các nguồn thức ăn với 25,49% (26/102 mẫu dương tính), trong khi thức ăn tinh chỉ ô nhiễm 1,51%. Trong môi trường chuồng trại, cặn nền chuồng ô nhiễm cao nhất với 14,22% (35/246 mẫu), và nguồn nước uống cho lợn ô nhiễm 18,82% (16/85 mẫu), tập trung nhiều ở nguồn nước ao hồ, sông suối.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lý Văn Bằng đã phản ánh thực trạng dịch tễ bệnh giun kết hạt do Oesophagostomum spp. gây ra trên đàn lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm 27,20% và tăng dần theo lứa tuổi. Công trình đã làm rõ mức độ ô nhiễm trứng giun nghiêm trọng trong thức ăn thô xanh (25,49%), nguồn nước uống (18,82%) và nền chuồng nuôi (14,22%), bắt nguồn từ thói quen chưa ủ phân và ít tẩy giun định kỳ của người dân. Các số liệu và giải pháp kỹ thuật thú y trong khóa luận mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác kiểm soát dịch bệnh ký sinh trùng và nâng cao năng suất chăn nuôi lợn tại địa phương.