đặt vấn đề tại sao ngay từ đầu lại không xét liên kết không giữ. Dựa trên các nhận xét trên Gauss đưa ra nguyên lý mới và chung của mình như sau: “Chuyển động của hệ chất điểm giữa chúng có liên kết tùy ý, chịu tác dụng bất kỳ, ở mỗi thời điểm, trùng hoàn toàn nếu như có thể, với chuyển động của hệ đó khi hoàn toàn tự do, tức là chuyển động xảy ra với lượng cưỡng bức tối thiểu nếu như số đo lượng cưỡng bức lấy bằng tổng tích của khối lượng mỗi chất điểm với bình phương độ lệch vị trí khả dĩ của chất điểm khi có liên kết với vị trí chuyển động của chất điểm khi hoàn toàn tự do sau một thời đoạn vô cùng nhỏ”. Giả sử ở thời điểm t chất điểm m có vị trí A. Nếu như ở thời điểm này ta giải phóng các liên kêt thì do có vận tốc ban đầu và tác dụng của lực, sau thời đoạn vô cùng nhỏ dt chất điểm có vị tri B.
Chất điểm khi có lực tác dụng và chịu ảnh hưởng của liên kết sau thới đoạn dt sẽ có vị trí C có thể nào đó. Chuyển động thực xảy ra khi lượng cưỡng bức Z của chất diểm viết đối với hệ nhiều chất diểm là tối thiểu : ̅̅̅̅𝑖2 → 𝑚𝑖𝑛 𝑍 = ∑𝑖 𝑚𝑖 𝐵𝐶 (1.27) Dựa vào bất đẳng thức (2.4) là bất đẳng thức cũng do ông đưa ra, Gauss trình bày các luận cứ chứng minh cho nguyên lý của mình. Biểu thức giải tích của nguyên lý Gauss Trong cơ hệ chất điểm nguyên lý được giải thích như sau [1]. Xét hệ chất điểm có tọa độ r và vận tốc 𝑟̇ ở thời điểm t.
Sau thời đoạn vô cùng nhỏ dt chất điểm chịu tác dụng của lực F và của vận tốc sẽ có vị trí 1̇ r(t+dt) = r+𝑟̇ 𝑑𝑡 + 𝑟̈ 𝑑𝑡 2 (a) 2 Nếu như tại thời điêm t ta giải phóng các liên kết nhưng vẫn giữ lực tác dụng, thì sau thời đoạn dt vị trí của chất diểm sẽ là ̇ 1𝐹 2 r(t+dt) = r+𝑟̇ 𝑑𝑡 + 𝑑𝑡 (b) 2𝑚 Hiệu của (b) và (a) là độ lệch vị tri chất điểm khi hoàn toàn tự do và khi có liên kết. Lượng cưỡng bức chuyển động theo của hệ chất điểm theo (1.28b) Trong hệ tọa độ vuông góc x, y, z biểu thức (1.29) các đại lượng X,Y,Z lần lượt là hình chiếu trên các trục tọa độ x,y,z của lực F tác dụng lên chất điểm .29) là các biểu thức giải tích của nguyên lý (1. Khối lượng chất điểm cũng như lực tác dụng lên nó đã biết cho nên trong (1.29) gia tốc là đaị lượng chưa biết. Khảo sát với các điều kiên liên kết khác nhau, các nhà nghiên cứu cho rằng đại lượng biến phân trong các biểu thức giải tích (1.29) chỉ có thể là gia tốc [1, 2, 3].
Các tài liệu cơ học hiện nay khi bàn về nguyên lý cực trị Gauss, ví dụ xem [1, 2, 3, 4],đều giới thiệu biểu thức (1.29), nhưng cần lưu ý rằng các biểu thức này không phải do Gauss mà do những nhà nghiên cứu nguyên lý Gauss đưa ra. Ngoài ra, trong [2] còn nêu nhận định rằng nguyên lý Gauss là một dạng đặc biệt của nguyên lý D’Alambert. Phương pháp nguyên lý cực trị Gauss Như Gauss đã viết, nguyên lý của ông là nguyên lý chung của cơ học, nghĩa là có tính khái quát cao, nhưng với kết luận và nhận định trình bày ở trên, nguyên lý này hầu như không được sử dụng trong cơ học. Phương pháp nguyên lý cực trị Gauss trình bày ở đây là phương pháp sử dụng trực tiếp nguyên lý Gauss để xây dựng các phương trình chuyển động và phương trình cân bằng của cơ hệ nhằm khẳng định phần nào tính khái quát của nguyên lý.
Cơ học chất điểm Các biểu thức (1.29) trình bày ở trên là các biểu thức của lượng cưỡng bức viết cho hệ chất điểm khi có liên kết bất kỳ (liên kết giữ và liên kết không giữ). Trong trường hợp liên kết giữ, xem gia tốc là đại lượng biến phân, từ (1.28) ta nhận được phương trình cân bằng: 1 ∑𝑖 (𝐹𝑖 − 𝑚𝑖 𝑟𝑖̈ )𝛿𝑟𝑖̈ =0 (1.30) 𝑚𝑖 Chú ý rằng thành phần trong ngoặc đơn của (1.30) biểu thị điều kiện cân bằng lưc tác dụng lên chất điểm, cho nên có thể xem 𝑟𝑖̈ là gia tốc ảo. Về mặt toán học , các đại lượng ảo là bất kỳ, nghĩa là có thể xem không chỉ gia tốc, mà cả vận tốc và chuyển vị cũng là các đại lượng ảo .30), có thể viết thêm 1 ∑𝑖 (𝐹𝑖 − 𝑚𝑖 𝑟𝑖̈ )𝛿𝑟𝑖̇ =0 (1.32) 𝑚𝑖 Phương trình (1.5) xem vận tốc là đại lượng biến phân, phương trình (1.32) xem chuyển vị là đại lượng biến phân. Như vậy, các đại lượng biến phân của nguyên lý cực trị Gauss (1.27) trong trường hợp liên kết giữ có thể là gia tốc, vận tốc hoặc chuyển vị Tương tư, trong trường hợp liên kết giữ, từ biểu thức lượng bức (1.29) sẽ nhận được các phương trình 𝑋 𝑌 𝑍 ∑𝑖 𝑚𝑖 {( 𝑖 − 𝑥𝑖̈ ) 𝛿𝑥𝑖̈ + ( 𝑖 − 𝑦𝑖̈ ) 𝛿𝑦𝑖̈ + ( 𝑖 − 𝑧𝑖̈ )𝛿𝑧𝑖̈ } = 0 (1.35) 𝑚𝑖 𝑚𝑖 𝑚𝑖 Đại lượng biến phân trong (1.33) là gia tốc, trong (1.34) là vận tốc, trong (1.35) là chuyển vị.
Như vậy, trong trường hợp liên kết giữ, nguyên lý Gauss (1.27) được dẫn về nguyên lý công ảo (1. Viết phương trình chuyển động của chất điểm có khối lượng m chuyển động không ma sát dưới tác dụng của lực trọng trường trên đường cong phẳng 𝑦 = 𝑏𝑥 2 (hình 2). Ví dụ này lấy từ [ 4]. Bài làm: Trong ví dụ này lực tác dụng lên chất điểm chiều x là X=0, chiều y là Y=mg.
Các phương trình (1.35) với chú ý rằng lực quán tính mang dấu âm và chuyển động xảy ra trong mặt phẳng (x,y), được viết lại như sau 𝑚𝑔 𝑚(𝑥̈ )𝛿𝑥̈ +𝑚( +𝑦̈ )𝛿𝑦̈ = 0 (a) 𝑚 𝑚𝑔 𝑚(𝑥̈ )𝛿𝑥̇ +𝑚( +𝑦̈ )𝛿𝑦̇ = 0 (b) 𝑚 𝑚𝑔 𝑚(𝑥̈ )𝛿𝑥 + 𝑚( +𝑦̈ )𝛿𝑦 = 0 (c) 𝑚 y g m O x Hình 2. Minh họa cho ví dụ 1 Bây giờ ta tính các vận tốc và gia tốc của y theo vận tốc và gia tốc của x 𝑦 = 𝑏𝑥 2 , 𝑦̇ = 2𝑏𝑥𝑥̇ , 𝑦̈ = 2𝑏𝑥̇ 2 + 2𝑏𝑥𝑥̈ Ta tính các biến phân 𝛿𝑦 , 𝛿𝑦̇ , 𝛿𝑦̈ qua các biến phân 𝛿𝑥, 𝛿𝑥̇ , 𝛿𝑥̈ 𝛿𝑦̈ = 𝛿𝑥̈ (2𝑏𝑥̇ 2 + 2𝑏𝑥𝑥̈ ) = 2𝑏𝑥𝛿𝑥̈ (d) 𝛿𝑦̇ = 𝛿𝑥̇ (2𝑏𝑥𝑥̇ ) = 2𝑏𝑥𝛿𝑥̇ (e) 𝛿𝑦 = 𝛿𝑥 (2𝑏𝑥 2 ) = 2𝑏𝑥𝛿𝑥 (f) Đưa lần lượt các các biến phân (d),(e),(f) vào các phương trình (a),(b),(c) ta sẽ nhận được cùng một phương trình sau 𝑥̈ + (𝑔 + 2𝑏𝑥̇ 2 + 2𝑏𝑥𝑥̈ )2𝑏𝑥 = 0 Sắp xếp lại, ta có (1 + 4𝑏2 𝑥 2 )𝑥̈ + 4𝑏2 𝑥𝑥̇ 2 + 2𝑏𝑔𝑥 = 0 Phương trình vừa nhận được là phương trình chuyển đông cần tìm của ví dụ trên. Những trình bày trên chỉ ra rằng,đối với cơ học chất điểm trong trường hợp liên kết giữ, đại lượng biến phân của nguyên lý Gauss có thể là gia tốc, vận tốc hoặc chuyển vị. Cơ học môi trường liên tục a.
Các phương trình Navier Sử dụng trực tiếp nguyên lý Gauss (1.1) để xây dựng các phương trình chuyển động của môi trường liên tục là nội dung của phần trình bày dưới đây. Để trình bày được rõ ràng, ta xét môi trường đàn hồi đồng nhất đẳng hướng. Tách một phân tố khối dx.dz ra khỏi môi trường. Các lực tác dụng đặt ở trọng tâm phân tố là các lực khối 𝑏𝑥, , 𝑏𝑦 , 𝑏𝑧 và các lực quán tính 𝑓𝑥 , 𝑓𝑦 , 𝑓𝑧 , còn ở trên các bề mặt của phân tố có các ứng suất pháp 𝜎𝑥 , 𝜎𝑦 , 𝜎𝑧 vá các ứng suất tiếp 𝜏𝑥𝑦 , 𝜏𝑥𝑧 , 𝜏𝑦𝑧 (hinh 2).
Do có lực tác dụng, trọng tâm phân tố có các chuyển vị u theo chiều x, v theo chiều y và w theo chiều z.2 Trạng thái ứng suất phân tố Các biến dạng của phân tố do các chuyển vị gây ra, khi xem các chuyển vị là bé, theo lý thuyết đàn hồi, ví dụ xem [ ], được xác theo các biểu thức 𝜕𝑢 𝜕𝑣 𝜕𝑤 𝜀𝑥 = , 𝜀𝑦 = , 𝜀𝑧 = 𝜕𝑥 𝜕𝑦 𝜕𝑧 𝜕𝑢 𝜕𝑣 𝜕𝑢 𝜕𝑤 𝜕𝑤 𝜕𝑣 𝜀𝑥𝑦 = ( + ) ,𝜀𝑥𝑧 = ( + ) , 𝜀𝑦𝑧 = ( + ) (1.36) 𝜕𝑦 𝜕𝑥 𝜕𝑧 𝜕𝑥 𝜕𝑦 𝜕𝑧 Quan hệ giữa ứng suất và biến dạng sẽ là 𝜈 𝜈 𝜎𝑥 = 2𝐺(𝜀𝑥 + 𝜃) , 𝜎𝑦 = 2𝐺(𝜀𝑦 + 𝜃) , 𝜎𝑧 = 2𝐺(𝜀𝑧 + 1−2𝜈 1−2𝜈 𝜈 𝜃), 1−2𝜈 𝜏𝑥𝑦 = 𝐺𝜀𝑥𝑦 , 𝜏𝑥𝑧 = 𝐺𝜀𝑥𝑧 𝜏𝑦𝑧 = 𝐺𝜀𝑦𝑧 𝐸 𝜃 = 𝜀𝑥 + 𝜀𝑦 + 𝜀𝑧 , 𝐺= (1.37) 2(1+𝜈) Trong các biểu thức trên 𝜃 là biến dạng thể tích, 𝐺 là mođun trượt của vật liệu, 𝐸 là mođun đàn hồi và 𝜈 là hệ số Poisson. Khi giải phóng liên kết, phân tố không có liên hệ nào với môi trường , chỉ chịu tác dụng của các lực khối 𝑏𝑥, , 𝑏𝑦 , 𝑏𝑧 và các lực quán tính 𝑓𝑥 , 𝑓𝑦 , 𝑓𝑧 và có các chuyển vi 𝑢0 , 𝑣0, 𝑤0 như của vật cứng, với 𝑢0 → ∞ , 𝑣0 → ∞, 𝑤0 → ∞.3 Để cho các chuyển vị 𝑢0 , 𝑣0, 𝑤0 được xác định, đăt thêm các lo-xo theo các chiều x, y, z (hinh 1.3) Độ cứng các lo-xo −𝑏𝑥 +𝑓𝑥 −𝑏𝑦 +𝑓𝑦 −𝑏𝑧 +𝑓𝑧 𝑘𝑥 = lim , 𝑘𝑦 = lim , 𝑘𝑧 = lim 𝑢0 →∞ 𝑢0 𝑣0 →∞ 𝑣0 𝑤0 →∞ 𝑤0 Ta cũng đặt các lo-xo vào phân tố có liên kết. Rõ ràng là các lo-xo được đưa thêm vào không làm thay đổi các chuyển vị 𝑢, 𝑣, 𝑤 của phân tố có liên kêt và chuyển vị 𝑢0 , 𝑣0, 𝑤0 của phân tố tự do. Phân tố có liên kết có các biến dạng (chuyển động) sau : Các biến dạng 𝜀𝑥 , 𝜀𝑦 , 𝜀𝑧 có độ cứng 2G , 2𝐺𝜈 Biến dạng thể tích 𝜃 có độ cứng , (1−2𝜈) Các biến dạng trượt 𝜀𝑥𝑦 , 𝜀𝑥𝑧 , 𝜀𝑦𝑧 có các độ cứng G.
Phân tố tự do (không có liên kết với môi trường) không có các biến dạng này. Theo nguyên lý Gauss (1.1) ta viết lưỡng bức chuyển động 2𝐺𝜈 𝑍 = ∫ { 2𝐺 ( 𝜀𝑥 2 + 𝜀𝑦 2 + 𝜀𝑧 2 ) + (1−2𝜈) 𝜃 2 + 𝜀𝑥𝑦 2 + 𝜀𝑥𝑧 2 + 𝐺 ( )} 𝑑𝑉 𝜀𝑦𝑧 2 + ∫{ 𝑘𝑥 (𝑢 − 𝑢0 )2 + 𝑘𝑦 (𝑣 − 𝑣0 )2 + 𝑘𝑧 (𝑤 − 𝑤0 )2 } 𝑑𝑉 → 𝑚𝑖𝑛 (1.38) V là thể tích vật thể cần tính. Trước tiên ta tìm cực trị ba tích phân cuối của biểu thức trên với chú ý rằng các đại lượng u,v và w là các hàm tọa độ cho nên phải dùng phép tính biến phân .