Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp, trong đó chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống của nông dân. Hiện nay, đi đôi với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì nhiều tiến bộ mới về giống, thức ăn, thú y… Cũng được áp dụng giúp cho đàn lợn không ngừng tăng nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân mà còn phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, vấn đề dịch bệnh vẫn là điều gây trở ngại lớn nhất đối với ngành chăn nuôi, nó đã ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất thịt, làm giảm hiệu quả chăn nuôi, trong đó phải kể đến là bệnh phân trắng lợn con. Bệnh phân trắng lợn con là một trong những bệnh hay gặp và gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng lợn giống.
Bệnh phân trắng lợn con là căn bệnh phổ biến trên thế giới, ở nước ta bệnh có ở hầu hết các tỉnh trong cả nước. Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (1997) [4], bệnh phân trắng lợn con chủ yếu do E. coli, bệnh thường xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh và trong thời gian bú sữa mẹ. Bệnh phân trắng lợn con đã làm giảm năng suất chăn nuôi nói riêng và hiệu quả kinh tế nói chung trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy tính chất bệnh không dễ gây thành dịch lớn nhưng tỷ lệ mắc ở mỗi đàn là khá lớn, nếu không điều trị kịp thời lợn con có thể chết với tỷ lệ khá cao, số con còn sống hầu hết đều còi cọc, chậm lớn. Ở nước ta nói chung và ở huyện Bình Liêu – Quảng Ninh nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học, đặc tính sinh vật, miễn dịch học… của mầm bệnh và những biện pháp phòng, trị bệnh. n 2 Tuy nhiên, do bản chất phức tạp của bệnh nên việc khống chế và thanh toán bệnh vẫn là một vấn đề còn nan giải và phức tạp. Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Nghiên cứu xác định tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con giai đoạn sơ sinh đến 28 ngày tuổi nuôi tại trại lợn Chương Mai xã Hoành Mô – huyện Bình Liêu – tỉnh Quảng Ninh và hiệu quả điều trị bệnh” 1.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con tại trại Lợn Chương Mai – xã Hoành Mô – huyện Bình Liêu – tỉnh Quảng Ninh - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh và rút ra phác đồ điều trị hiệu quả hơn. - Khuyến cáo với người chăn nuôi về tình hình cảm nhiễm bệnh và hiệu lực của thuốc điều trị bệnh. - Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng và trị hội chứng bệnh phân trắng ở lợn con. - Để thu được kết quả cao trong đợt thực tập và thực hiện tốt những nội dung đề ra, bản thân em đưa ra một số mục tiêu để thực hiện như sau: - Nắm chắc lý thuyết và thông thạo các thao tác thực hành.
- Nghiên cứu được tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con. - Đánh giá được tình hình bệnh phân trắng ở lợn con, các yếu tố ảnh hưởng tới tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học - Đề xuất phương pháp đánh giá nguyên nhân mắc bệnh phân trắng và cách phòng bệnh.2 Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá mức độ nhiễm bệnh phân trắng. - Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để định hướng nguyên nhân gây bệnh từ đó biết cách phòng và trị bệnh đạt hiệu quả cho lợn con.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của lợn con Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh. Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [2], so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, thì lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm.
Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh. VD: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gram protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4 gram protein /1kg khối lượng cơ thể. Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ.
Đặc điểm sinh lý của lợn con * Cấu tạo và dung tích của đường tiêu hoá Khi nghiên cứu sự phát triển đường tiêu hoá của lợn con, nhiều tác giả đi đến kết luận: Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác. Cơ quan tiêu hoá của lợn con khi còn trong bào thai đã hình thành đầy đủ nhưng dung tích còn nhỏ. Lợn con 1 ngày tuổi, dạ dày nặng 4 - 5 gram, có thể chứa 25 - 40 gram sữa, ruột non nặng 40 - 50 g, dài 3,5 - 4 m, có thể chứa 100 - 110 gram sữa. Lúc 10 ngày tuổi, dạ dày tăng gấp 3 lần (cả khối lượng và thể tích), 20 ngày tuổi nặng gấp 8 lần, dung tích ruột non tăng gấp bội, ruột già cũng tăng mạnh.
Ở 60 ngày tuổi, dạ dày và ruột non tăng gấp 60 lần lúc sơ sinh. * Đặc điểm tiêu hóa ở dạ dày Theo Đoàn thị Băng Tâm (1987) [12], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do. Lúc này lượng axit ít, nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch. Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con.
Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày nếu gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển và gây bệnh ở đường tiêu hoá của lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy. Cũng do thiếu HCl tự do nên trong giai đoạn này men pepsin không hoạt động, khả năng tiêu hoá thuộc về men lipaza và kimuzin. Hai men này tăng dần từ lúc sơ sinh đến 3 tuần tuổi sau đó giảm dần, bù vào đó là men pepsin đã có khả năng hoạt động và tiết ra tăng dần. Sức tiêu hoá của dịch vị tăng dần theo tuổi một cách rõ rệt.
Khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết dịch vị mạnh nhất, dịch vị thu được khi cho ăn thức ăn hạt chứa nhiều n 6 HCl hơn và sức tiêu hoá nhanh hơn dịch vị khi cho ăn sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. * Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở ruột non Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu hoá được protein của gạo, bột cá… Lợn con lúc 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tụy phân tiết trong một ngày là 150 - 300 ml. Sự phân tiết dịch tụy tăng theo tuổi: Ở 40 ngày tuổi là 460 ml, 3 tháng tuổi là 3 - 5 lít và 7 tháng tuổi là 10 lít.
Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tụy rất cao bù lại khả năng tiêu hoá kém của dạ dày. Tác dụng của dịch mật đối với lợn con rất quan trọng vì trong sữa của lợn mẹ có rất nhiều lipit. Dịch mật xúc tiến tiêu hoá lipit trong sữa tương đối thấp đối với saccaroza, mantoza và tăng cường nhu động ruột. Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh, song khả năng chống đỡ bệnh tật lại rất kém.
Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống… và có các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá cho lợn con (giữ ấm, ổn định ẩm độ, tiêm phòng…). * Đặc điểm về cơ quan điều tiết thân nhiệt Cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở dưới vỏ đại não, mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả hai giai đoạn trong thai và ngoài thai. Do đó việc điều tiết thân nhiệt kém, năng lực phản ứng yếu dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu nóng ẩm và lạnh ở bên ngoài. Lợn con trong thời kỳ này nếu nuôi trong chuồng nuôi có nhiệt đọ thấp, ẩm độ tương đối cao sẽ làm thân nhiệt lợn con giảm xuống nhanh.
n 7 Khi còn là bào thai điều kiện sống tương đói ổn định các chất dinh dưỡng do lợn mẹ cung cấp cho nhau thai. Sau khi sinh ra cơ thể lợn con tiếp xúc trực tiếp với điều kiện ngoại cảnh. Do đó, nếu chăm sóc không tốt lợn dễ còi cọc và chết đặc biệt vào mùa đông khi thời tiết mưa phùn lợn con dễ mắc bệnh về đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con. Mặt khác, do lớp mỡ dưới da mỏng, lượng mỡ và glycozen dữ trữ trong cơ thể thấp nên khả năng giữ nhiệt và cung cấp nhiệt cho cơ thể để chống rét còn hạn chế.
Vì vậy, phải tạo mọi điều kiện thích hợp trong quá trình sinh sản để lợn con không bị thay đổi nhiệt độ đột ngột lúc mới sinh. Độ ẩm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con. Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh. Độ ẩm thích hợp của lợn con ở nước ta là 56 - 70%.