Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Lớp sán lá song chủ (Trematoda) 1. Vị trí phân loại của một số loài sán trong lớp sán lá song chủ Theo Looss, (1907) [35] lớp sán lá song chủ Trematoda có vị trí phân loại trong cây phân loại khoa học như sau: Giới (Kingdom): Animalia (Động vật) Ngành (Phylum): Platyhelminthes Schneider, 1873.
Bộ (Order): Opisthorchiida La Rue, 1957. Họ (Family): Opisthorchiidae Lìhe, 1911. Giống (Genus): Clonorchis Looss, 1907. Bộ Fascolata Skrjanbin et Shulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955 Họ Galactosomidae Looss, 1899 Loài Haplorchis pumilio Looss, 1899 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905 Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955 Họ Galactosimidae Morosov, 1950 Giống Haplorchis Looss, 1899 Loài Haplorchis taichui Nishigori, 1924 Lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Prosostomata Odhner, 1905 n 5 Bộ Fasciolata Skrjanbin et Schulz, 1937 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955 Họ Galactosimidae Morosov, 1950 Giống Procerovum Onji et Nishio, 1924 Loài Procerovum sp Bộ Opisthorchida La Rue, 1957 Phân bộ Heterophyata Morosov, 1955 Họ Heterophyidae Odhner, 1914 Giống Centroestus Looss, 1899 Loài Centrocestus formosanus Nishigori, 1924 Sán lá song chủ nhỏ hoặc sán lá gan nhỏ ấu trùng có tên gọi là metacercaria.
Loài sán này có vòng đời sống ký sinh trên các loại ốc hoặc nhuyễn thể, vật chủ trung gian thứ hai có thể là cá, hoặc động vật có vú trong đó có cả con người. Loài ốc nước ngọt có tên Parafossarulus manchouricus (hoặc: Parafossarulus striatulus) là ký chủ đầu tiên của sán. Bên cạnh đó còn có một số loại ốc nước ngọt khác cũng là ký chủ của sán lá gan nhỏ như: Bithynia longicornis (hoặc: Alocinma longicornis) - ở Trung Quốc. Bithynia fuchsiana - ở Trung Quốc.
Bithynia misella - ở Trung Quốc. Parafossarulus anomalosiralis - ở Trung Quốc. Melanoides tuberculata - ở Trung Quốc. Semisulcospira libertina - ở Trung Quốc.
Assiminea lutea - ở Trung Quốc. Tarebia granifera - ở Đài Loan, Trung Quốc (WHO, 1995) [44]. Lớp sán lá song chủ có tổng số khoảng 3.000 loài, chúng được phân thành hai lớp phụ Aspidogastraea và Digenea dựa vào cấu tạo ngoài của cơ thể sán có mặt của giác bám bụng hay không. - Lớp phụ Aspidogastraea: Sán lá song chủ thuộc lớp phụ Aspidogastraea n 6 không có giác bám bụng mà chỉ có đĩa bám ở mặt bụng, phát triển qua biến thái nhưng không có xen kẽ thế hệ.
Kích thước nhỏ hơn 1 mm. Sán lá song chủ thuộc lớp phụ này ký sinh ở trên cơ thể cá, trai trai, rùa. Đại diện cho lớp phụ này là: Loài sán Aspidogaster conchicola ký sinh ở trong xoang tim của trai nước ngọt Ananodonta. - Lớp phụ Digenea: Sán lá song chủ thuộc lớp phụ Digenea có cấu tạo cơ thể bao gồm 2 giác bám, giác ở miệng và giác ở bụng.
Các loài sán ở lớp phụ Digenea phát triển có sự xen kẽ thế hệ và thay đổi vật chủ. Đại diện phổ biến là các loài: (1) Sán lá gan lớn (Fasciola hepatica) sống ký sinh trong ống mật của trâu, bò, cừu, dê, gây bệnh nặng cho vùng chiêm trũng. Vật chủ trung gian của sán lá gan lớn là ốc tai Lynaea swihoei; (2) Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu (Fasciolopsis buski) sống ký sinh trong ruột non của lợn và ruột tá của người. Mỗi ngày sán lá ruột lợn có thể đẻ ra 5.000 trứng, phát triển qua 3-7 tuần, vật chủ trung gian của sán lá ruột lợn là ốc đĩa dày Polypilis hemisphoerula.
Kén của sán bám trên bề mặt của bèo Nhật bản, rau lấp, rau muống phổ biến ở vùng đồng bằng. Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu ký sinh trên lợn gây bệnh tắc ruột, phù gan thiếu máu và giảm hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi; (3) Sán lá gan nhỏ sống ký sinh trong ống dẫn mật của người, mèo, chó… Người bị nhiễm bệnh do ăn gỏi cá, triệu chúng phù gan, vàng da, viêm túi mật. sán phát triển qua 2 vật chủ trung gian là ốc Melanoides tuberculatus hay ốc Parafossarulus striatulus và vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá trong họ cá chép (chép, trắm cỏ, mè trắng, rô phi… ). Bệnh khá phổ biến ở Việt Nam, vùng đồng bằng hay Tây nguyên; (4) Sán máu có 3 loài phổ biến là Schistosoma haematobium (ký sinh ở bọng đái của người gây đái ra máu); S.
Bệnh gan do sán máu S. japonicum rất phổ biến trên thế giới, theo thống kê hiện nay có khoảng 200 triệu người bị nhiễm bệnh và hàng năm có khoảng 800.000 người n 7 bị chết (WHO, 1995) [44]. Sán tuyến tuỵ (Eurytrema pancreayticum, E. Nhìn chung các loại sán lá song chủ trên có vòng đời phát triển qua hai vật chủ trung gian, giai đoạn trưởng thành đều ký sinh trên người và động vật gây bệnh cho vật chủ bằng cách chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ.
Tuy các loài sán lá song chủ có vòng đời phát triển phức tạp, và trải qua nhiều giai đoạn với nhiều vật chủ trung gian. Nhưng chúng ta chỉ cần phá vỡ một khâu trong vòng đời phát triển của sán lá song chủ thì sẽ loại bỏ được sự lây truyền ấu trùng sán sang người và vật nuôi. Chính vì vậy chúng ta cần tìm cách để hạn chế sự lây truyền của sán từ vật chủ trung gian sang người và vật nuôi. Đặc điểm sinh học sán lá song chủ Trematoda Sán lá song chủ Trematoda được phát hiện lần đầu tiên bởi MacConnell ở Ấn Độ và MacGregor ở Mauritius vào năm 1874, khi giải phẫu một người Trung Quốc bị tử vong do bệnh gan.
Sau đó các nhà khoa học điều tra thấy sán tập trung rất nhiều ở Trung Quốc và Nhật Bản có đến 56 - 67% người dân bị nhiễm sán. Năm 1890, Park lần đầu tiên phát hiện trường hợp nhiễm sán ở Mỹ do một người Trung Quốc nhập cư. Sau nhiều điều tra nghiên cứu, lần đầu tiên sán lá C. sinensis được mô tả chi tiết vào năm 1917 bởi Watson dài từ 10 - 20 mm, trứng kích thước dài 28 - 30 µm, rộng 15 - 17 µm (Watson, 1917) [27].
Sán lá gan nhỏ ký sinh trên cơ thể người gây bệnh trên gan. Lớp sán lá song chủ (Trematoda) nói chung gây bệnh phổ biến cho con người tại khu vực Đông Nam Á trong đó có cả ở Việt Nam, gần đây các nhà khoa học còn tìm thấy trường hợp bị nhiễm sán lá gan C. sinensis tại Iran (Mitra và cs, 2007) [37]. Theo thống kê của WHO hiện nay chỉ tính riêng khu vực Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á có khoảng 30.000 người bị nhiễm sán lá gan (WHO, 1995) [44].
Con người bị nhiễm bệnh sán lá song chủ do ăn phải cá hoặc các loại thủy sản chưa chín kỹ. Sán lá trưởng thành sống trong cơ thể người, trứng sán theo phân người bài tiết ra ngoài môi n 8 trường và lây nhiễm cho ốc, chúng sinh sản nhanh trong ốc (đây chính là giai đoạn trung gian). Sau đó chúng bơi tự do, ấu trùng giải phóng ra ngoài lây nhiễm cho cá. Cấu tạo cơ thể sán lá song chủ Trematoda Theo Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang (2005) [1] cấu tạo cơ thể sán lá song chủ Trematoda trưởng thành có những đặc điểm chính như sau: Hình 1.
Cấu tạo cơ thể của Sán lá song chủ A. Biểu hiện ở Sán lá gan lớn 1. Lỗ sinh dục; 5. Tuyến noãn hoàng; 7.
Ống noãn hoàng; 10. Nhánh ruột; 11. Ống dẫn tinh; 15. Cơ quan giao phối; 19.
(Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1] n 9 - Cơ thể sán lá song chủ thường dẹp hình trứng, hình lá đối xứng hai bên hoặc không đối xứng, một số cơ thể còn chia làm 2 phần trước sau, có giống loài mặt lưng hơi cao. Kích thước cơ thể sai khác rất lớn khoảng 0,5 - 1 mm nhưng cá biệt có thể trên 10 mm. Khi sán ký sinh trên người có kích thước dài 10 - 20 mm, chiều ngang từ 2 - 4 mm (Ký sinh trùng, 1997) [2]. Cơ thể trong, không màu, cá biệt có màu đỏ của máu do màu máu.
Bề mặt cơ thể trơn, một số giống loài trên bề mặt có móc hoặc các mấu lồi. Sán lá có 2 giác bám, một giác bám bụng và một giác bám miệng. Ngoài giác bám còn có các gai cuticun giúp cho sán bám chắc hơn. Thường giác hút miệng tương đối nhỏ (500 mc) ở phía trước cơ thể, giác hút bụng nhìn chung lớn hơn giác hút miệng (600 mc) (Ký sinh trùng, 1997) [2].
- Thành cơ thể cấu tạo theo kiểu mô bì chìm, tầng cuticun dày bao ngoài cơ thể, lông tiêu giảm. Lớp ngoài cùng của sán lá song chủ là một lớp nguyên sinh chất hợp bào dày hơn sán lá đơn chủ, rải rác có giống loài có móc là cơ quan bám bổ sung, lớp này còn để chống lại tác dụng của dịch tiêu hoá của ký chủ và hấp thụ dinh dưỡng. Lớp tiếp theo là lớp nguyên sinh chất chìm trong đó có 3 lớp cơ: cơ vòng, cơ dọc, cơ xiên. - Hệ tiêu hoá: Hệ tiêu hóa của sán lá song chủ trưởng thành bao gồm có miệng, hầu, thực quản, ruột.
Bắt đầu bằng lỗ miệng nằm ở đáy giác miệng. Đại bộ phận miệng ở chính giữa giác hút trước. Hầu do tế bào cơ và tế bào tuyến của cơ thể cấu tạo thành. Miệng đổ vào hầu có thành cơ khoẻ.
Tiếp theo là thực quản hẹp, ngắn. Ruột giữa của sán chia làm 2 nhánh, chạy dọc 2 bên cơ thể và bịt kín ở tận cùng. Sán lá song chủ trưởng thành ăn thức ăn trong ruột và máu của vật chủ, tiêu hoá nội bào là chính. Một số giống loài sán lá song chủ có hậu môn.
- Hệ bài tiết: Sán lá song chủ có hệ bài tiết là nguyên đơn thận, gồm có 1 - 2 ống chạy dọc cơ thể. Ống dọc có nhiều ống nhánh nhỏ chạy ra 2 bên và kết thúc là tế bào ngọn lửa. Hai ống bài tiết đổ vào bọng đái, ra ngoài qua lỗ bài tiết. Hệ bài tiết của Sán lá song chủ (Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1] - Hệ thần kinh: Sán lá song chủ có hệ thần kinh bao gồm đôi hạch não nằm trên hầu và các đôi dây thần kinh chạy dọc, thường là 3 đôi.
Dây thần kinh bên hoặc dây thần kinh bụng phát triển hơn cả. Hệ thần kinh của Distomium caudatum (theo Grasse) (Nguồn: Thái Trần Bái và Nguyễn Văn Khang, 2005) [1] n 11 - Sán lá song chủ tiêu giảm các giác quan, chúng tiêu giảm để thích nghi phù hợp với vòng đời ký sinh trong vật chủ. - Hệ sinh dục: Sán lá song chủ trừ một số họ như Schistomatidae, Didymozoidae còn lại đều có hệ thống sinh dục lưỡng tính, đực cái trên cùng một cơ thể. So với sán lá đơn chủ, sán lá song chủ có hệ thống sinh dục đa dạng hơn.