Chương 1 là cơ sở đề nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài trong các chương tiếp theo. Cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập 2. Những vấn đề chung về đạo đức nghề nghiệp 2. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp a.
Khái niệm đạo đức Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”. Theo Wikipedia, đạo đức là “hệ thống quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội”. Theo từ điển Cambridge, đạo đức là “hệ thống các tiêu chuẩn cá nhân hay xã hội về các hành vi và tính cách tốt hay xấu”. Đạo đức còn được hiểu là các hành vi đúng đắn của các cá nhân; các nguyên tắc về các hành vi tốt và xấu; là sự phân biệt giữa cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai, và điều gì nên làm và không nên làm (Beekun và cộng sự, 2003; Beu và Buckley, 2001; Christie và cộng sự, 2003).
Như vậy có thể hiểu đạo đức là hệ thống các tiêu chuẩn, nguyên tắc về các mối quan hệ và các hành vi được xã hội thừa nhận, dựa trên đó các thành viên của xã hội điều chỉnh cách thức cư xử của mình để phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống những nguyên tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi của con người trong quan hệ giữa con người với con người, được hình thành thông qua niềm tin cá nhân, các giá trị truyền thống và tác động của cộng đồng. Đạo đức qui định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân cũng như đối với các cá nhân khác và cộng đồng. Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để xây dựng lối sống, lí tưởng mỗi người, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Khái niệm đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là “những phẩm chất cần có của mỗi người theo đúng những quy tắc chuẩn mực của một nghề nhất định được cộng đồng xã hội thừa nhận, nhằm điều chỉnh hành vi, thái độ của con người trong quan hệ với con người, tự 7 nhiên và xã hội khi hành nghề. Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc chi phối hành vi của một người hoặc một nhóm trong môi trường công việc. Giống như các giá trị, đạo đức nghề nghiệp cung cấp các quy tắc về cách một người nên hành động đối với người khác và các tổ chức trong một môi trường như vậy. Như vậy đạo đức nghề nghiệp là các tiêu chuẩn, nguyên tắc điều chỉnh hành vi của những người hành nghề trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, nhằm đảm bảo người hành nghề thực hiện nhiệm vụ của mình với chất lượng tốt, tuân thủ các qui định của pháp luật, tạo niềm tin cho cộng đồng về chất lượng dịch vụ cung cấp.
Mỗi nghề nghiệp đều có thể có các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp riêng, ví dụ đạo đức nghề nghiệp đối với ngành y, ngành luật, ngành kế toán… Đạo đức nghề nghiệp là sự phát triển của những nguyên tắc đạo đức chung trong một nghề nghiệp cụ thể, được các tổ chức, cá nhân hành nghề trong lĩnh vực nghề nghiệp đó công nhận, là cơ sở để đánh giá, điều chỉnh hành vi trong lĩnh vực nghề nghiệp. Một số lý thuyết về sự phát triển đạo đức Trong lịch sử các nghiên cứu về đạo đức đã có một số nhà nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết về sự phát triển của đạo đức cá nhân, và đã được các nghiên cứu sau này phát triển và chứng minh qua các nghiên cứu thực nghiệm. Trong đó nổi bật là lý thuyết về sự phát triển đạo đức của Kohlberg (1969) và mô hình hành động đạo đức của Rest (1986). Lý thuyết về sự phát triển đạo đức của Kohlberg (1969) (Kohlberg’s cognitive moral development model) Kohlberg (1969) là một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đạo đức và phát triển tâm lý.
Ông đã đề xuất một phương pháp nghiên cứu sự phát triển đạo đức, được gọi là quá trình phát triển nhận thức. Công trình nghiên cứu của Kohlberg (1969) về các giai đoạn phát triển đạo đức tập trung vào các xét đoán đạo đức và quá trình nhận thức của các cá nhân khi họ đối mặt với các tình huống khó xử về đạo đức, và là một đóng góp lớn cho nghiên cứu về việc ra quyết định đạo đức trong các tổ chức. Lý thuyết của Kohlberg mô tả các giai đoạn phát triển đạo đức của cá nhân từ 8 thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, bao gồm ba cấp độ và sáu giai đoạn phát triển tiếp nối nhau, cấp độ sau sau hoàn thiện, đầy đủ hơn cấp độ trước (Ponemon và Gabhart, 1990; Robertson và Fadil, 1999; Trevino, 1986). Kohlberg xác định cấp độ phát triển đạo đức đầu tiên là tiền qui ước (Preconventional Morality).
Các cá nhân ở cấp độ phát triển này tập trung vào lợi ích trước mắt của chính họ và các phần thưởng và hình phạt bên ngoài. Cấp độ phát triển đạo đức thứ hai là đạo đức qui ước (Conventional Morality). Các quyết định đạo đức của các cá nhân trong các giai đoạn phát triển này dựa trên sự phù hợp với kỳ vọng của gia đình hoặc các nhóm đồng đẳng hoặc một bộ phận xã hội lớn hơn. Các cá nhân trong các giai đoạn đạo đức qui ước duy trì các quy tắc vì điều đó đó phù hợp với mong đợi của gia đình, nhóm hoặc xã hội.
Cấp độ phát triển cao nhất của sự phát triển nhận thức về đạo đức là đạo đức hậu qui ước (Postconventional Morality). Ở cấp độ phát triển đạo đức này, các cá nhân tập trung vào các giá trị đạo đức hoặc nguyên tắc phổ quát. Hành vi đạo đức là hành vi dựa trên những nguyên tắc phổ quát về công bằng, bình đẳng về quyền con người. Tuy nhiên quyền của cá nhân không được xung đột với quyền và lợi ích của xã hội.
Kohlberg cho rằng các cá nhân phản ứng khác nhau với các tình huống đạo đức tùy thuộc vào giai đoạn phát triển đạo đức của họ. Khi các cá nhân trải qua các giai đoạn phát triển đạo đức, họ càng nhận thức rõ quyền lợi của người khác và sự công bằng dựa trên các nguyên tắc phổ quát. Các cá nhân trong giai đoạn tiền qui ước thường tuân thủ các quy tắc vì lợi ích riêng của họ và để tránh bị trừng phạt, và thường gặp khó khăn trong việc hiểu các lợi ích của những cá nhân khác không tương thích với chính họ. Các nhà quản lý trong các giai đoạn phát triển đạo đức thấp hơn có nhiều khả năng đánh giá các tình huống khó xử về đạo đức theo lợi ích cá nhân nhiều hơn so với các nhà quản lý trong các giai đoạn phát triển đạo đức cao hơn (Robertson và Fadil, 1999).
Ngược lại, các cá nhân ở giai đoạn phát triển đạo đức qui ước có xu hướng duy trì các quy tắc vì hành động đó phù hợp với mong đợi của một nhóm tham chiếu hoặc của xã hội. Đồng thời, các cá nhân ở giai đoạn qui ước cũng gặp khó khăn trong việc tách biệt ý kiến của bản thân họ khỏi kỳ vọng của các 9 nhóm bên ngoài và xã hội. Các cá nhân ở giai đoạn phát triển hậu qui ước duy trì nghĩa vụ trước pháp luật và sẽ tuân theo các nguyên tắc đạo đức do họ lựa chọn bất kể ý kiến của đa số. Mô hình của Kohlberg chỉ ra rằng quá trình phát triển nhận thức đạo đức của các cá nhân phụ thuộc vào độ tuổi, giáo dục và yếu tố kinh nghiệm (Conroy và cộng sự, 2010; Robertson và Fadil, 1999; Robertson và cộng sự, 2002).
Mô hình hành động đạo đức của Rest (1986) (Rest's Model of Moral Action) Dựa trên lý thuyết về phát triển nhận thức của Kohlberg, Rest (1986) đã đề xuất mô hình hành động đạo đức để mô tả quá trình nhận biết, suy luận và thực hiện hành động đạo đức của một cá nhân. Theo mô hình Rest, quá trình thực hiện hành động đạo đức bao gồm bốn giai đoạn, bắt đầu bằng việc xác định một vấn đề đạo đức hoặc tình huống khó xử về đạo đức (identification of an ethical dilemma). Một khi một tình huống khó xử về đạo đức đã được xác định, ở bước tiếp theo, các cá nhân tiến hành xét đoán để xác định những hành động nào nên được thực hiện để giải quyết tình huống khó xử (assessment of ethical choices). Việc xét đoán (judgment) này cho phép một cá nhân đánh giá sự phù hợp của các hành động khác nhau để xử lý tình huống đạo đức.
Tiếp theo quá trình xét đoán là việc xác định hành động dự kiến sẽ thực hiện (planned intention to act). Giai đoạn cuối cùng của quá trình tâm lý là việc thực hiện hành vi đạo đức (ethical action or behavior). Mô hình bốn giai đoạn của Rest cho rằng để hành vi đạo đức xảy ra, các cá nhân phải thực hiện bốn quy trình tâm lý cơ bản: Thứ nhất, cá nhân phải có khả năng phân tích tình huống để xác định những hành động có thể thực hiện, các bên sẽ bị ảnh hưởng của các hành động này và ảnh hưởng của hành động đến lợi ích của họ. Thứ hai, cá nhân phải có khả năng xét đoán hành động nào là đúng đắn về mặt đạo đức, từ đó xác định một hành động khả thi mà cá nhân đó nên làm thực hiện trong tình huống đó.
Thứ ba, cá nhân đó phải ưu tiên cho các giá trị đạo đức trên các giá trị cá nhân khác để quyết định sẽ thực hiện hành vi đạo đức. Thứ tư, cá nhân đó phải có đủ sự kiên trì, lòng tự trọng và khả năng thực hiện ý định của mình để vượt qua những trở ngại và hành xử đạo đức. Xét đoán đạo đức nghề nghiệp Theo mô hình hành động đạo đức của Rest như đã trình bày ở Mục 2.1, quá trình ra quyết định đạo đức của một cá nhân gồm bốn giai đoạn: nhận thức tình huống đạo đức, thực hiện xét đoán, dự kiến hành động và thực hiện hành động đạo đức. Trong đó ở giai đoạn thứ hai, cá nhân đưa ra xét đoán về việc hành động nào là phù hợp về mặt đạo đức để giải quyết một tình huống khó xử.
Đây là một giai đoạn quan trọng cho việc đưa ra các quyết định đạo đức.