NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG --------------------- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2020 – 2021 NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM MÃ SỐ: DTHV.13//2020 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. LÊ THỊ THU HÀ HÀ NỘI – 2021 17014127861791000000 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HỌC VIỆN NGÂN HÀNG --------------------- ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM HỌC 2020 - 2021 NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM MÃ SỐ: DTHV.13/2020 Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Thị Thu Hà Thư ký đề tài: TS. Nguyễn Thị Lê Thanh Thành viên tham gia: PGS.
Phạm Thanh Thủy TS. Nguyễn Thành Trung HÀ NỘI – 2020 MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU. Lý do lựa chọn đề tài. Tổng quan nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Kết cấu đề tài nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập. Những vấn đề chung về đạo đức nghề nghiệp. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp kế toán – kiểm toán.
Các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập. Các nhân tố thuộc về cá nhân. Các nhân tố thuộc về môi trường. Phương pháp nghiên cứu và kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam.
Khái quát mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Mẫu khảo sát và thiết kế phiếu khảo sát. Phân tích dữ liệu.
Kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam. Thống kê mô tả các biến. Kết quả phân tích tương quan giữa các biến. Kết quả phân tích hồi qui .49 Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị đề xuất và kết luận.
Thảo luận kết quả nghiên cứu. Các khuyến nghị đề xuất. Hoàn thiện nội dung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán kiểm toán. Tăng cường tính hiệu lực của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán.
Tăng cường vai trò của giá trị đạo đức doanh nghiệp. Các khuyến nghị khác. Đóng góp của đề tài nghiên cứu. Một số hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai.
67 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 76 DANH MỤC CÁC SẢN PHẨM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. 83 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3. Thống kê mô tả đối tượng khảo sát.
Trích câu hỏi khảo sát về nhận thức của kiểm toán viên đối với tầm quan trọng của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán – kiểm toán. Trích câu hỏi khảo sát về giá trị đạo đức của doanh nghiệp kiểm toán. Các tình huống trong bảng câu hỏi khảo sát. Thống kê mô tả kết quả khảo sát vai trò của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
Thống kê mô tả kết quả khảo sát giá trị đạo đức doanh nghiệp. Thống kê mô tả kết quả khảo sát tình huống. Kết quả phân tích tương quan Pearson. Kết quả hồi qui cho giá trị trung bình của các tình huống.
Kết quả của hồi qui logistic thứ bậc cho từng tình huống. Tổng quan nội dung của Bộ chuẩn mực đạo đức quốc tế dành cho kế toán chuyên nghiệp phiên bản 2018, 2020. Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu 1. Lý do lựa chọn đề tài Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với kiểm toán viên độc lập để tạo nên sự tin tưởng từ người sử dụng kết quả kiểm toán.
Nghề kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã trải qua gần 30 năm xây dựng, phát triển, và đã đạt được những thành tựu nhất định. Từ hai doanh nghiệp kiểm toán được thành lập năm 1991, đến nay Việt Nam đã có khoảng 180 công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên vẫn còn có các hạn chế nhất định trong hoạt động kiểm toán. Số lượng, chất lượng kiểm toán viên vẫn còn có chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Đặc biệt là vấn đề đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên vẫn còn chưa khiến người sử dụng kết quả kiểm toán hoàn toàn yên tâm, tin tưởng khi sử dụng các kết quả kiểm toán. Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên là cần thiết để từ đó các cơ quan quản lý và doanh nghiệp kiểm toán có định hướng phù hợp trong việc đề ra các biện pháp tăng cường đạo đức nghề nghiệp kiểm toán. Đây cũng là chủ đề mới và chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho việc giảng dạy cũng như cho các doanh nghiệp kiểm toán và kiểm toán viên ở Việt Nam.
Theo lý thuyết về hành động đạo đức của Rest (1986) (Rest model of moral action), quá trình ra quyết định đạo đức của một cá nhân gồm 4 giai đoạn: xác định vấn đề khó xử về đạo đức (identification of the moral issue), đưa ra xét đoán đạo đức (making ethical judgment), dự kiến kế hoạch hành động (making ethical intention) và thực hiện hành động (taking moral action). Trong đó việc thực hiện các xét đoán về đạo đức, tức là việc xem xét trong một tình huống khó xử thì hành động nào là thích hợp, tuân thủ các yêu cầu về đạo đức, là một trong những giai đoạn quan trọng để giúp một cá nhân có thể thực hiện các hành vi phù hợp đạo đức. Vì vậy, trong phạm vi của đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc đưa ra các xét đoán đạo đức của kiểm toán viên độc lập tại Việt Nam. Tổng quan nghiên cứu Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đạo đức và xét đoán đạo đức nghề nghiệp của kế toán viên và kiểm toán viên.
Các nhân tố thường được chia thành hai nhóm là nhân tố thuộc về cá nhân, ví dụ tuổi, giới tính, kinh nghiệm, xu hướng chính trị… của kế toán viên, kiểm toán viên, và nhân tố thuộc về môi trường làm việc, ví dụ vai trò của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, văn hoá đạo đức doanh nghiệp,… Croxford (2010) nghiên cứu các nhân tố văn hoá quốc gia, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm ảnh hưởng tới việc ra quyết định đạo đức của các kế toán viên trong một công ty đa quốc gia. Kết quả cho thấy người theo chủ nghĩa tập thể và nhóm nhân viên có độ tuổi cao hơn ít chấp nhận hành vi phi đạo đức hơn. Nhân viên kế toán nữ với thời gian học tập trên bốn năm cũng ít chấp nhận hành vi phi đạo đức hơn. Douglas và công sự (2001) nghiên cứu mối quan hệ giữa xu hướng đạo đức của kiểm toán viên (ethical orientation), văn hoá đạo đức của công ty và một số yếu tố môi trường khác ảnh hưởng đến xét đoán đạo đức của kiểm toán viên tại hai công ty kiểm toán quốc tế lớn.
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên bảng câu hỏi khảo sát, yêu cầu người tham gia cho biết mức độ đồng ý với một số câu hỏi về xu hướng đạo đức, văn hoá đạo đức doanh nghiệp và một số nhân tố ảnh hưởng khác, cùng với câu hỏi về một số tình huống trong đó KTV đưa ra các quyết định đạo đức của mình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong các tình huống có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng hơn (high moral intensity) thì xét đoán đạo đức bị ảnh hưởng bởi xu hướng đạo đức cá nhân và yếu tố môi trường. Ngoài ra, văn hoá đạo đức doanh nghiệp và xu hướng tuân thủ chặt chẽ qui tắc trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến xét đoán đạo đức của KTV. Martinson và Ziegenfuss (2000), Muslumov và Aras (2004), và Maree và Radloff (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, văn hoá đạo đức doanh nghiệp và tuổi của kế toán viên tới xét đoán đạo đức của kế toán viên tại Nam Phi, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ.
Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi gồm các nội dung từ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của các quốc gia, bảng câu hỏi về văn hoá đạo đức doanh nghiệp do Hunt và cộng sự (1989) xây dựng, và ba tình huống để đo lường 2 chất lượng xét đoán đạo đức của các đối tượng khảo sát. Nghiên cứu của Martinson và Ziegenfuss (2000) cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức về tầm quan trọng của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tới xét đoán của kế toán viên. Đồng thời, văn hoá đạo đức doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đến xét đoán đạo đức. Tuy nhiên, nghiên cứu của Maree và Radloff (2007) cho thấy văn hoá đạo đức doanh nghiệp chỉ có ảnh hưởng đối với hành vi tiêu cực, nhưng không có tác động đối với các hành vi tích cực.
Trong khi đó Muslumov và Aras (2004) không tìm thấy ảnh hưởng của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tới xét đoán nghề nghiệp của KTV. Hill và cộng sự (1998) nghiên cứu về ảnh hưởng của giới tính, xu hướng chính trị, kinh nghiệm giải quyết các tình huống đạo đức, và văn hoá quốc gia tới xét đoán nghề nghiệp của các kiểm toán viên Mỹ và Ireland. Kết quả cho thấy các kiểm toán viên nữ đưa ra các xét đoán đạo đức tốt hơn, các kiểm toán viên theo xu hướng tự do và có nhiều kinh nghiệm giải quyết các tình huống đạo đức có xét đoán đạo đức tốt hơn; tuy nhiên văn hoá quốc gia không có tác động đến các xét đoán đạo đức. Bernardi và Arnold (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của giới tính và kinh nghiệm làm việc tới xét đoán đạo đức của các kiểm toán viên.
Kết quả cho thấy nữ giới có xét đoán đạo đức tốt hơn nam giới; nữ giới có kinh nghiệm làm việc lâu năm hơn cũng có xét đoán tốt hơn. Eynon và cộng sự (1997), Sweeny (1995) cũng cho thấy nữ giới có xét đoán tốt hơn nam giới, người theo chủ nghĩa tự do có xét đoán tốt hơn người theo chủ nghĩa bảo thủ, và các kế toán viên hành nghề đã hoàn thành các khoá đào tạo về đạo đức có xét đoán tốt hơn. Thorne (2000) và Massey (2002) phát hiện mức độ phát triển đạo đức có mối quan hệ tích cực tới chất lượng của các xét đoán nghề nghiệp.