NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SƠ 1 NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SƠ TÊN ĐỀ TÀI: NHẬN THỨC RỦI RO CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG VỀ SẢN PHẨM RAU AN TOÀN TẠI CÁC NƢỚC ĐÔNG DƢƠNG Chủ nhiệm: Nguyễn Văn Thích Thành viên: Trần Thị Ngọc Quỳnh Thư ký: Nguyễn Thị Thu Hiền TP.HCM -2022 2 TÓM TẮT LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC MỤC LỤC CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU. Giới thiệu tổng quan. Mục tiêu nghiên cứu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đóng góp của nghiên cứu. Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Mối liên kết giữa thông tin rủi ro và mức độ tin tƣởng.
Nhận thức về nguy cơ an toàn thực phẩm. Rủi ro tiềm năng của sản phẩm rau và tác động của nó đến tiêu thụ. 144 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Thu thập dữ liệu nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. 24 CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kết quả thống kê mô tả. Kết quả của PCA.
Kết quả của hồi quy logit. Thảo luận kết quả nghiên cứu. 28 CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN. 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
35 i DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT CHỮ VIẾT TẮT Ý NGHĨA 1 WTP Willingness To Pay: khả năng sẵn sàng chi trả 2 BSE Bệnh não xốp ở bò 3 PCA Phân tích thành phần 4 WHO Tổ chức Y tế Thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 3. Mô tả khu vực nghiên cứu và số lượng quan sát theo quốc gia Bảng 4. Thống kê mô tả các biến đã chọn Bảng 4. Kết quả PCA Bảng 4.
Kết quả hồi quy logit có thứ tự DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2. Mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu ii CHƢƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu tổng quan Chuỗi cung ứng thực phẩm ở các nước đang phát triển Châu Á đang nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu chủ yếu do: 1) sự gia tăng thu nhập; 2) đô thị hóa nhanh chóng; 3) thay đổi chế độ ăn uống; và 4) cuộc cách mạng bán lẻ. Thu nhập tăng lên và quá trình đô thị hóa dẫn đến thay đổi lối sống, đồng thời cũng dẫn đến việc chuyển sang tiêu thụ nhiều thực phẩm không ngũ cốc, chế biến và chế biến sẵn (Reardon & Timmer, 2014).
Với thu nhập cao hơn và nhận thức về thực phẩm an toàn ngày càng tăng, người tiêu dùng ngày càng yêu cầu cao hơn đối với các thuộc tính chất lượng cụ thể của thực phẩm (McCluskey & Swinnen, 2011). Đáp lại, các nhà bán lẻ hiện đại, chẳng hạn như siêu thị đã phát triển nhanh chóng vì chúng mang lại nhiều lợi thế hơn so với các chợ truyền thống. Các siêu thị thường đa dạng hơn về mặt hàng, chi phí thực phẩm chế biến thấp hơn, mua sắm thuận tiện và việc thực hiện các tiêu chuẩn riêng về chất lượng và an toàn của sản phẩm thực phẩm (Barrett, Reardon, & Webb, 2001). Trong bối cảnh đó, chất lượng và an toàn thực phẩm được công nhận là một chiến lược cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trong thị trường thực phẩm giá trị cao.
Đô thị hóa nhanh chóng cũng làm trầm trọng thêm vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam. Đô thị hóa gắn liền với các chuỗi thực phẩm dài hơn, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm thực phẩm cao hơn, đặc biệt là từ các loại thực phẩm dễ hỏng. Do đó, an toàn thực phẩm ở các khu vực thành thị trở nên dễ bị tổn thương hơn (Reardon & Timmer, 2014). Ở các thành phố đô thị như Hà Nội, một chuỗi thực phẩm mở rộng dẫn đến ít tiếp xúc trực tiếp giữa nông dân và người tiêu dùng cuối cùng của họ.
Điều này khiến người tiêu dùng không chắc chắn về chất lượng và an toàn thực phẩm (Joy, Shields, & research, 2013). Trong trường hợp này, sự tin tưởng vào chính phủ và các bên liên quan trong 1 chuỗi thực phẩm có thể giúp giảm bớt sự không chắc chắn như vậy. Thật không may, niềm tin đó đã bị xói mòn. Do đó, mối quan tâm của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm đang gia tăng.
Những lo ngại về an toàn thực phẩm có thể gây ra thiệt hại kinh tế đáng kể cho Việt Nam. Ở cấp độ trong nước, Việt Nam có khoảng 86 triệu người tiêu dùng. Người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến thực phẩm nhập khẩu khi lòng tin của họ vào độ an toàn của các sản phẩm tươi sống trong nước giảm (Việt, Minh, & Thuỷ, 2017). Sau đó, các nhà sản xuất thực phẩm trong nước phải nhường thị trường của mình cho các nhà sản xuất nước ngoài.
Sinh kế của một bộ phận lớn nông dân trong nước, đặc biệt là những nông dân có quy mô nhỏ, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Việt Nam là nước xuất khẩu lớn một số mặt hàng nông sản như gạo, cà phê và thủy sản. Thực phẩm nội địa gần đây gây ra các rào cản thương mại do các nước nhập khẩu áp đặt. Điều này đang diễn ra vào thời điểm Việt Nam đang hướng tới hội nhập sâu rộng hơn vào thị trường toàn cầu và khu vực (Ngân hàng Thế giới, 2017).
Do đó, có thể hợp lý để dự đoán rằng Việt Nam có thể bị thiệt hại đáng kể về kinh tế trong nước cũng như thị trường xuất khẩu do ảnh hưởng của thực phẩm trong nước. Để giải quyết vấn đề này, cần có hiểu biết toàn diện về nhận thức rủi ro của thực phẩm và vai trò của nó trong việc thúc đẩy lựa chọn thực phẩm. Nhận thức về rủi ro an toàn thực phẩm đề cập đến đánh giá của người tiêu dùng về nguy cơ sức khỏe liên quan đến việc tiêu thụ thực phẩm (Schroeder, 2007). Nó có thể được đo lường bằng điểm trung bình của rủi ro được nhận thức hoặc mối quan tâm về an toàn thực phẩm (Liu, He, & Yan, 2014).
Vì nhận thức rủi ro là chủ quan, nên nó thường được dự đoán là sai lệch. Người tiêu dùng có xu hướng đánh giá thấp nguy cơ thực sự, chẳng hạn như ung thư phổi do hút thuốc nhưng lại đánh giá quá cao nguy cơ ít quan trọng hơn, chẳng hạn như bệnh do thực phẩm từ thực phẩm đóng hộp (W. Verbeke, Frewer, Scholderer, & De Brabander, 2007). Những người tiêu dùng có nhận thức sai lệch về rủi ro phải chịu những chi phí có thể tránh được do họ không biết rủi ro hoặc sử dụng các biện pháp phòng ngừa bổ sung.
Ngoài ra, những 2 hành vi này dẫn đến sự thất bại của các chương trình giáo dục người tiêu dùng (De Jonge, Van Trijp, Jan Renes, & Frewer, 2007). Ở Việt Nam, nhận thức về nguy cơ an toàn thực phẩm có vẻ còn sai lệch. Người tiêu dùng có xu hướng đánh giá quá cao nguy cơ sức khỏe do ô nhiễm hóa chất trong thực phẩm trong khi các bằng chứng trên toàn thế giới cho thấy mối nguy do vi khuẩn là nguyên nhân chính gây ra bệnh do thực phẩm (Việt và cộng sự). Việc giảm thiểu các lo ngại về an toàn thực phẩm và sự thiên lệch trong nhận thức rủi ro đòi hỏi phải có hoạt động truyền thông rủi ro hiệu quả mà không thể thực hiện được nếu không có cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định nhận thức rủi ro.
Nhận thức về rủi ro thường được hình thành bởi sự tin tưởng vào các tổ chức và thông tin về rủi ro thực phẩm (Rutsaert và cộng sự, 2013). Mối liên hệ giữa nhận thức rủi ro, sự tin cậy và thông tin rủi ro cần được tính đến trong việc phát triển các chương trình truyền thông rủi ro thực phẩm. Đã có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào những yếu tố cơ bản của nhận thức về nguy cơ an toàn thực phẩm (Liu và cộng sự, 2014; Lobb, Mazzocchi, Traill, & preference, 2007; Rutsaert và cộng sự, 2013). Các nghiên cứu phát hiện ra rằng lòng tin là một trong những yếu tố dự báo chính của nhận thức rủi ro, đặc biệt là khi thiếu kiến thức.
Sử dụng lòng tin vào các cơ quan công quyền và ngành công nghiệp thực phẩm giúp người tiêu dùng thiếu kiến thức về các mối nguy giảm bớt sự phức tạp trong việc lựa chọn thực phẩm (Siegrist & Cvetkovich, 2000). Thông tin rủi ro được coi là một yếu tố quan trọng khác quyết định đến nhận thức rủi ro (W. Điều này là do nhận thức rủi ro được hình thành bởi một quá trình phức tạp tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, diễn giải, sau đó lọc thông tin đó thông qua kinh nghiệm trực tiếp và hoàn cảnh văn hóa xã hội (De Jonge và cộng sự, 2007). Một số nghiên cứu, chẳng hạn như (Lobb và cộng sự, 2007) đã kiểm tra các mối liên quan giữa lòng tin, thông tin và nhận thức rủi ro.
Các nghiên cứu khác đã điều tra một trong ba khái niệm: nhận thức rủi ro về các mối nguy cụ thể (Kher và cộng sự, 2013), nhận thức rủi ro đối với các loại thực phẩm cụ thể (Lobb và cộng sự, 2007) và nhận thức rủi ro đối với toàn bộ thực phẩm (Liu và cộng sự, 3 2014). Nhận thức rủi ro về các mối nguy có nghĩa là đánh giá của người tiêu dùng về nguy cơ sức khỏe của họ từ việc phơi bày các mối nguy cụ thể thông qua việc tiêu thụ thực phẩm. Nhận thức rủi ro của các loại thực phẩm thể hiện đánh giá của họ về nguy cơ sức khỏe khi tiêu thụ các sản phẩm thực phẩm cụ thể. Nhận thức rủi ro của thực phẩm nói chung là đánh giá của người tiêu dùng về nguy cơ an toàn của thực phẩm nói chung.
Mặc dù mối liên hệ giữa các mức độ nhận thức rủi ro, sự tin cậy và thông tin rủi ro khác nhau có thể thoát ra, nhưng không có nghiên cứu nào tập trung vào các mối liên kết này. Các nghiên cứu đã chú ý đến cách người tiêu dùng phản ứng với nguy cơ nhận thức được liên quan đến thực phẩm. Hầu hết người tiêu dùng đều sợ rủi ro. Nếu rủi ro được cho là cao hơn mức có thể chấp nhận được, người tiêu dùng có khả năng phát triển các chiến lược để giảm thiểu rủi ro (Mitchell, 1999, Yeung & Morris, 2006).
Người tiêu dùng có thể áp dụng nhiều chiến lược giảm thiểu rủi ro như tự cung cấp thực phẩm (Green và cộng sự, 2003), giảm tiêu thụ thực phẩm bị ảnh hưởng (Schroeder và cộng sự, 2007) và chuyển sang thực phẩm chất lượng cao như sản phẩm hữu cơ.