Đặt vấn đề Cây hoa hiên (Hemerocallis fulva) còn được biết đến với tên gọi huyên thảo, kim châm, hoàng hoa thái hay rau huyên. là một trong những loại cây dược liệu được sử dụng ngày càng rộng rãi. Hoa hiên thuộc họ Hemerocallidaceae, có nguồn gốc từ Trung Quốc, hoa hiên rất ít bị sâu bệnh, không đòi hỏi phải bón phân nhiều. Ở nhiều nước trên thế giới hoa hiên còn được biết đến với công dụng làm đẹp cảnh quan công viên, công sở, trường học do có thời gian cho hoa dài, đa dạng về màu sắc hoa.
Như vậy, hoa hiên vừa có thể sử dụng trang trí trong thời gian dài, không gây tốn kém như một số loại hoa thời vụ khác vì phải thay mới thường xuyên, mặt khác có thể xen kẽ các giống với nhau để kéo dài thời gian trang trí cho cảnh quan, giúp cho cảnh quan luôn tươi mới. Hiện nay trên thế giới có hàng nghìn giống hoa hiên khác nhau đa dạng về màu sắc, hình dáng, chủng loại mà ở Việt Nam chưa có. Ở nước ta hoa hiên chủ yếu trồng ở Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, tuy nhiên trồng với diện tích nhỏ, giá trị về cảnh quan chưa được quan tâm, chủ yếu được biết đến với công dụng làm thuốc. Hầu hết hoa hiên có bộ nhễm sắc thể lưỡng bội (2n = 22).
Vì trong tự nhiên không tìm thấy hoa hiên có bộ NST tứ bội (4n = 44) nên hoa hiên tam bội (3n = 33) không thể được tạo ra từ tổ hợp lai hoa hiên tứ bội và hoa hiên lưỡng bội. Biện pháp được sử dụng rộng rãi để tạo cây tứ bội là xử lý bằng hoa chất colchicines. Cây hoa hiên tam bội có hoa to hơn, màu sắc đa dạng hơn, số lượng hoa nhiều hơn và thân cây to hơn các cây lưỡng bội. Nhân giống hoa hiên tam bội – K1 cũng là một đề tài cần được quan tâm.
Hoa hiên tam bội là cây bất thụ nên không có hạt, không thể nhân giống bằng cách gieo hạt, chỉ có thể nhân giống bằng phương pháp truyền thống như trồng bằng củ. Tuy các phương pháp nhân giống truyền thống đơn giản, dễ thực hiện nhưng lại ít hiệu quả do thời gian nhân giống dài, hệ số nhân thấp. Trong khi đó, 1 phương pháp nhân giống in vitro có thể tạo được cây con sạch bệnh với thời gian nhân giống ngắn, hệ số nhân giống cao, cây đồng nhất, đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng giống. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu nhân nhanh in vitro hoa hiên tam bội – K1” nhằm ứng dụng nhân giống cây vô tính in vitro cũng như chọn tạo giống ở cây hoa hiên tam bội bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào.
Mục đích và yêu cầu đề tài 1. Mục đích Xác định một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến nhân nhanh in vitro cây hoa hiên tam bội – K1 1. Yêu cầu Xác định công thức khử trùng để tạo mẫu sạch từ nhiều nguồn mẫu khác nhau. Xác định nguồn mẫu tốt nhất để nuôi cấy khởi động.
Xác định giai đoạn tốt nhất của các nguồn mẫu khác nhau. Xác định nồng độ chất điều tiết sinh trưởng tốt nhất với từng loại vật liệu nghiên cứu. Xác định điều kiện nuôi cấy phù hợp với từng loại nguồn mẫu. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về hoa hiên (Hemerocallis fulva) 2. Nguồn gốc Hoa hiên (Hemerocallis fulva) là loại cây thân thảo sống lâu năm thuộc chi hoa hiên (Hemerocallis), họ Hemerocallidaceae. Chi Hemerocallis có nguồn gốc từ Châu Á, xuất hiện ở Trung Quốc, bắc Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc (Surinder K. Hoa hiên đã được trồng ở Châu Á trong hàng thế kỳ, có niên đại ít nhất 2600 năm TCN, được đưa vào châu Âu đầu những năm 1500 (Ted L.
Petit and Dorothy J. Theo truyền thuyết truyền miệng của Trung Quốc, hoa hiên xuất hiện từ năm 2697 TCN (Kitchingman, 1985) với tên gọi là huyên thảo, nhưng được ghi chép lại lần đầu tiên trong các tác phẩm kinh điển của Khổng Tử khoảng năm 551 tới năm 479 TCN (Barnes, 2004) 2. Stout đã công bố phân loại của ông về hoa hiên vào năm 1934, và nghiên cứu này là cơ sở phân loại được sử dụng cho đến hiện tại (Ted L. Petit và Dorothy J.
Năm 1992, Erhardt đã phát triển hệ thống phân loại hoa hiên phức tạp hơn, được phân thành 5 nhóm gồm: fulva, citrina, middendorfii, nana và mutiflora. Ông chỉ công nhận 20 loài trong chi này. Từ năm 1992, có thêm 2 loài được công nhận là H. Gulia và cs, 2009) Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) và Nguyễn thị Đỏ (2007), hoa hiên ở Việt Nam được biết đến với hai loài Hemerocallis fulva (L.) và Hemerocallis lilioasphodelus (L.
Đặc điểm hình thái 2. Rễ Rễ hoa hiên thuộc loại rễ củ, sống lưu niên; có màu vàng xám hoặc xám nâu nhạt (Ted L. Petit and Dorothy J. Bộ rễ dài, thanh mảnh, dạng sợi hoặc hình thoi.
Sự khác biệt trong hệ thống rễ là một trong những tiêu chí để tách hoa hiên vào các loài khác nhau. Rễ có thể hình thành cấu trúc rễ củ mọng, như trong trường hợp của H. nana, rễ dày lên chỉ ở gần phần cuối của chúng, chỉ ra rằng các loài có liên quan đến nhau. dumortieri có hình trụ; trong khi đó của H.
fulva là hình thoi. Hoa hiên là cây chịu hạn bởi vì hai đặc điểm của rễ: thân rễ có thể dự trữ lượng nước lớn và rễ xơ có thể khai thác nước trong đất hoàn toàn. Gulia và cs. Thân Thân hoa hiên là thân giả do các bẹ lá xếp tạo thành.
Thân rễ là phần gốc của cây, chính là phần lõi màu trắng nằm giữa lá và rễ. Thân rễ ngắn chứa các mô phân sinh đỉnh; lá, ngồng hoa và rễ phát sinh từ thân rễ ngắn này. Lá Lá hoa hiên không thể chia thành phiến, cuống và những phần cơ bản (Voth et al. Lá có thể đứng thẳng, cong ra ngoài, uốn cong gần đỉnh hoặc có xu hướng gấp dọc gân lá.
Gulia et al., 2009) Lá hoa hiên có dạng dải dài, thuôn nhọn ở đỉnh, gốc lá dạng bẹ ôm lấy thân. Mép lá nguyên hoặc lượn sóng, lá mọc tập trung ở gốc xếp thành hai hàng đối nhau giống như rẻ quạt. (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) Màu sắc lá hoa hiên có thể có màu vàng xanh như ở loài H. fulva hoặc màu xanh đậm ở loài H.
Hoa Hoa hiên lá hoa lưỡng tính, có mùi thơm hoặc không, cuống hoa ngắn. Bao hoa 6 mảnh, phần dưới dính nhau thành hình phễu; phần trên có 6 thùy, xếp 4 2 lớp: lớp bên trong cánh hoa to hơn lớp cánh đài bên ngoài, khi hoa nở cánh hoa cong ra ngoài. Nhị 6, đính ở ống bao hoa, chỉ nhị dài không bằng nhau. Bao phấn đính ở lưng hoặc ở gần gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc.
Nhụy hoa dạng sợi, mảnh, dài hơn nhị; đầu nhụy dạng đầu. (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) Hoa hiên lá hoa lưỡng tính, có mùi thơm hoặc không, cuống hoa ngắn. Bao hoa 6 mảnh, phần dưới dính nhau thành hình phễu; phần trên có 6 thùy, xếp 2 lớp: lớp bên trong cánh hoa to hơn lớp cánh đài bên ngoài, khi hoa nở cánh hoa cong ra ngoài. Nhị 6, đính ở ống bao hoa, chỉ nhị dài không bằng nhau.
Bao phấn đính ở lưng hoặc ở gần gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc. Nhụy hoa dạng sợi, mảnh, dài hơn nhị; đầu nhụy dạng đầu. (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) Mỗi thân hoa hiên cho 1-3 cụm hoa mỗi năm. Cụm hoa có thể có xuất hiện từ đỉnh hoặc từ nách lá.
Gulia et al. Mùa hoa của hầu hết các giống hoa hiên là mùa hè (Juerg Plodeck, 2002). Tùy thuộc vào khu vực và khí hậu, hoa hiên có thể nở rộ từ tháng 5 đến giữa tháng 7 (Ted L. Petit and Dorothy J.
Sự phát triển cụm hoa bị ngừng lại đến mùa sinh trưởng tiếp theo ở cả hai kiểu hình thường xanh và ngủ nghỉ. Gulia et al., 2009) Kích thước hoa hiên được mô tả theo các giới hạn sau: rất nhỏ (nhỏ hơn 7,5 cm), nhỏ (7,5 – 11 cm), hoặc lớn (hơn 11 cm). Petit and Dorothy J. Callaway, 2008) Trong tự nhiên, hoa Hiên có hoa màu vàng hoặc màu da cam, đôi khi có tông màu đỏ hoặc nâu.
Ngày nay, nhiều giống lai có màu sắc khác xa màu sắc hoa hiên tự nhiên. Gần như mọi màu sắc được thể hiện trên hoa, có thể có cả màu xanh lá cây, màu nâu và màu đen. Mặc dù màu trắng đã xuất hiện trong một số giống mới nhưng các nhà chọn tạo giống vẫn không ngừng tìm kiếm bông hoa có màu trắng tinh khiết hơn. Những màu khó tạo ra được đánh giá cao sau khi tìm và là trọng tâm của chương trình nhân giống.
Petit and Dorothy J. Callaway, 2008) 5 Hình dạng hoa hiên có thể được mô tả khi quan sát trực diện hoặc bên cạnh. Quan sát trực diện có thể thấy được một trong bốn hình dạng khác nhau. Hoa tròn có cánh phẳng, ngắn, rộng chồng lên nhau.
Hoa hình tam giác có cánh hoa tương đối hẹp, tạo ra một hình tam giác. Hoa hình sao có cánh hoa hẹp hơn so với hoa hình tam giác, các cánh hoa dài và hẹp nên không chồng chéo lên nhau, bông hoa giống như một ngôi sao ba cánh hoặc sáu cánh. Những bông hoa không theo một trong ba dạng hoặc thiếu tính thống nhất được gọi là dạng hoa không chính thức. Quan sát từ phía bên cạnh có thể mô tả được các dạng hoa như uốn ngược với cánh hoa cong phía họng hoa hoặc hình chiếc ly, hoặc có hình loa kèn, với cánh hoa vượt khỏi họng hoa, giống như một cụm hoa thủy tiên.
Dạng mặt phẳng với những cánh hoa tạo thành một mặt phẳng. Petit and Dorothy J. Callaway, 2008) Ngoài ra còn có dạng hoa kép với hơn sáu cánh, có thể lên tới 18 cánh với nhiều cách sắp xếp khác nhau hay hoa xù với cánh hoa bị xù hoặc gấp nếp (Bodie Pennisi, 2004) Hiện nay, American Hemerocallis Society (AHS), cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên, công nhận các hình dạng hoa sau đây cho mục đích trưng bày: đơn, kép, mạng nhện, không chính thức và polymerous (bông hoa với số lượng các bộ phận nhiều hơn bình thường, tức là số lượng đài hoa và cánh hoa nhiều hơn 3 (thường là 4 hoặc 5). Quả và hạt Quả hoa hiên có dạng quả nang, hình tròn hoặc bầu dục; chia làm 3 ô gồm 6 mảnh vỏ đóng mở theo cặp.
Hạt nhỏ, bóng, màu đen, có hình tròn hoặc hình elip. Phân bố Trong nhiều năm trở lại đây, hoa hiên được trồng làm cảnh ở những nơi có khí hậu mát, ẩm như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm 6 Đồng).