CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây chuối Từ xa xưa việc trồng và nhân giống chuối đã tồn tại. Ở châu Đại Dương nghề nông đã có sớm nhất khoảng 8.000 năm trước Công nguyên vùng này đầu tiên đã thấy xuất hiện chuối Austramusa, loài này đã được coi là một trong những cây nông nghiệp đầu tiên. Ở châu Á chuối đã được xuất hiện từ 4000 năm trước Công Nguyên [4], vì vậy có thể nói chuối có nguồn gốc từ Châu Á.
Điều này không những thể hiện ở sự phát triển mạnh của chuối ăn quả tươi và chuối ăn luộc do thích hợp khí hậu mà còn ở sự đa dạng các chủng loại chuối. Theo Nguyễn Đăng Khôi và cs (1997) [8] các loài chuối thuộc ngành Ngọc Lan (Mangolophya), lớp Hành (Liliopsida), phân lớp Hành (Lilidae), bộ Gừng (Zingibereles), họ Chuối (Musacea). Họ chuối gồm 2 chi với 70 loài, trong đó: chi Ensete gồm 10 loài, phân bố chủ yếu vùng Châu Phi; chi Musa gồm 60 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới [8, 14]. Trong Bộ gừng, Musaceae là họ nguyên thủy nhất, chúng gồm những cây thân thảo lớn có rễ, sống lâu năm, lá mọc xoắn ốc có bẹ lá ôm lấy nhau tạo thành thân giả, phiến lá rất lớn.
Cụm hoa mọc theo kiểu hoa tự bông vô hạn được hình thành ở ngọn từ thân khí sinh. Trục mang hoa và thân thật được mọc lên từ củ dưới lòng đất. Lá bắc lớn trong chứa từ 1 - 3 hàng hoa. Những hoa ở gốc của cụm hoa là hoa cái, hoa ở giữa là hoa lưỡng tính, hoa trên cùng là hoa đực.
Bao hoa gồm 2 hoặc 3 vòng nhưng tạo thành 2 cánh, cánh ngoài cùng được tạo bởi 3 đài đính liền với 2 cánh hoa và thường có mầu vàng ươm hay mầu vàng nhạt, cánh hoa trong nằm đối diện với mảnh ngoài thường ngắn, màu trong suốt và được hai mép của cánh ngoài bao phủ. n 5 Có 5 nhị, bộ nhụy, lá noãn hợp bầu dưới, quả mọng, chứa nhiều hạt tuy nhiên ở loài chuối trồng hạt thui đi rất sớm. Thành phần dinh dưỡng trong quả tính theo khối lượng tươi và khô đối với chuối ăn và chuối nấu như sau: Bảng 1. Thành phần dinh dưỡng trong quả chuối ăn tươi và chuối nấu Chuối ăn tươi (%) Chuối nấu (%) Thành phần Theo khối Theo khối Theo khối Theo khối lượng tươi lượng khô lượng tươi lượng khô Nước 75,7 - 66,4 - Gluxit 22,2 91,4 31,2 92,8 Protein 1,1 4,5 1,1 3,3 Lipit 0,2 0,8 0,4 1,2 Tro 0,8 3,3 0,9 2,7 Trong quả chuối có một lượng vitamin khá lớn, đặc biệt là các Vitamin nhóm A và C.
Tuỳ thuộc vào giống, hàm lượng vitamin có thể thay đổi, các giống chuối ăn được thường giàu vitamin C và B6, còn các giống chuối trong nhóm chuối nấu lại giàu vitamin A. Nói chung, hàm lượng vitamin trong chuối phong phú và cao hơn một số loại quả khác như cam, táo…Tác giả Champion J. cho rằng quả chuối có giá trị dinh dưỡng cao, thể hiện khi ăn 100 g thịt quả cho mức năng lượng 110 - 120 calo. Trong khi đó, 100g táo n 6 cho mức năng lượng 64 calo, 100 g cam cho 52 calo, 100g đào cho 45 calo… Măt khác, các thành phần dinh dưỡng trong quả chuối được cơ thể hấp thụ nhanh.
Vì vậy, chuối được coi là loại quả lý tưởng cho người già, sức khỏe yếu, suy dinh dưỡng, mệt mỏi… Ngoài ra, quả chuối cũng có vị trí đặc biệt trong khẩu phần ăn giảm mỡ, Cholesteron và muối Natri…[24]. Hàm lượng vitamin trong một số loại quả Loại Caroten Thiamin Riboflavin Axit ascobic quả (Tiền vitamin A) (Vitamin B1) (Vitamin B2) (Vitamin C) Chuối 0,24 0,05 0,06 10,00 Táo 0,05 0,03 0,07 5,00 - 8,00 Cam 0,04 - 0,17 0,08 0,03 - 0,05 52,00 - 53,00 Một số phát hiện gần đây cho biết, chuối là sản phẩm có hiệu quả trong việc chữa các bệnh về phủ tạng như đường ruột… Ngoài ra, quả chuối rất có lợi cho những người nhiễm độc than trì, có tác dụng chống các vết loét gây ra bởi những người bệnh dùng thuốc aspirin và có tác dụng làm lành các vết loét này, đồng thời, trong thành phần chuối còn có đầy đủ các axit amin [24] Chuối là loại quả có giá trị dinh dưỡng cao và giá thành rẻ nên chuối được tiêu thụ với số lượng lớn trên thế giới. Bên cạnh tiêu thụ quả tươi, sản phẩm chuối có thể là nguyên liệu sản xuất ra bột chuối và chuối sấy khô. Bột chuối là loại dinh dưỡng quý cho trẻ em và người già yếu, người có bệnh tiêu hóa và đây là sản phẩm có giá trị kinh tế rất cao [2], cụ thể như sau Khô đậu tương (45% protêin) : 300 USD/tấn Bột sắn khô : 100 USD/tấn Bột chuối (cho người ) : 1000 USD/tấn Bột chuối (cho gia súc) : 110 USD/tấn Protein đậu tương : 664 USD/tấn Chuối sấy là một sản phẩm cho năng lượng cao, khối lượng nhẹ, dễ dàng vận chuyển và bảo quản.
Ngoài ra, chuối sấy còn được sử dụng làm n 7 nguyên liệu cho sản xuất bánh kẹo, tinh dầu. Một số sản phẩm phụ của chuối như nhựa mủ… có tầm quan trọng trong sản xuất Tanin, bẹ chuối là nguyên liệu để sản xuất dây chão, lá chuối được sử dụng làm gói bọc… Ngoài ra, chuối còn làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất cồn, bia, rượu… Thời gian trước, vỏ chuối trong ngành chế biến thực phẩm thường bị loại bỏ dưới dạng phế thải, điều này gây tác hại lớn đến môi trường xung quanh, không đem lại hiệu quả kinh tế, nhưng gần đây, người ta đã tạo ra được Ethanol từ vỏ chuối [2]. So với nhiều loại cây trồng khác, toàn bộ sản phẩm của cây chuối có thể làm lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, thuốc nhuộm, công nghiệp chế biến thực phẩm, làm rượu, mứt và vì một lý do nào đó trong sản xuất kinh doanh, việc xuất quả tươi gặp trở ngại thì cũng dễ dàng sử dụng sản phẩm chuối vào những mục đích khác với trang thiết bị yêu cầu không cao như chuối sấy khô, làm bột, ủ chua… [16]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối thế giới giai đoạn 2006 - 2011 Năm 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Diện tích 4.142,187 (nghìn tấn) (Nguồn: FAO Statistical Database, 2013 [38]) Chuối là loại quả nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, chiếm tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả toàn cầu. Khoảng 98% sản lượng chuối của thế giới được trồng ở những nước đang phát triển n 8 và được xuất khẩu tới các nước phát triển. Vào năm 2007, tổng cộng có 130 nước sản xuất chuối. Theo số liệu của FAO diện tích chuối trên thế giới năm 2011 là 5,2 triệu ha, năng suất trung bình đạt 20,29 tấn/ha, sản lượng chuối trên thế giới năm 2010 là 107,1 triệu tấn, tăng 22,8 triệu tấn so với năm 2006.
Tình hình sản xuất chuối toàn thế giới giai đoạn 2006 - 2011 được đề cập ở bảng 1. Xuất khẩu chuối trên thế giới tập trung cao ở các nước đang phát triển, chỉ riêng các nước Mỹ Latinh và vùng Caribe cung cấp khoảng 70% tổng số chuối xuất khẩu của cả thế giới. Bốn quốc gia đứng đầu xuất khẩu chuối vào những năm 2011 là Ecuado, Costa Rica, Philippines và Colombia chiếm khoảng 63% lượng chuối xuất khẩu thế giới, riêng Ecuado cung cấp trên 30% lượng chuối xuất khẩu toàn cầu, tuy nhiên, lượng chuối xuất khẩu của các nước Mỹ Latinh và vùng Caribean có xu hướng giảm từ sau những năm 90, trong khi đó lượng chuối xuất khẩu các nước Châu Á lại tăng lên [32]. Nhập khẩu chuối nhiều nhất là liên minh Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, chiếm khoảng 67% khối lượng chuối nhập khẩu của thế giới vào năm 2011.
Trong khoảng thời gian này có 10 nước đứng đầu chiếm 80% chuối nhập khẩu thế giới. Một số các thị trường mới nổi lên như Nga, Trung Quốc và các nước Đông Âu [32]. Ở Châu Á nước xuất khẩu chuối nhiều nhất là Philippines, nước nhập khẩu nhiều nhất là Nhật Bản. Hiện nay, thị trường tiêu thụ chuối ăn vẫn đang được mở rộng như khu vực Bắc Đông Á, Trung Cận Đông và một số nước Tây Âu.
Một số nước trước đây nhập khẩu chuối từ Châu Mỹ nay có xu hướng bắt đầu chuyển sang nhập khẩu chuối của Châu Á. Trong đó, có những khách hàng rất quan tâm đến chuối của Việt Nam và có thể mua với số lượng lớn [32]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối tại Việt Nam Chuối là mặt hàng có triển vọng xuất khẩu của Việt Nam, nhất là đối với giống chuối già và chuối cau. Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam đã có những công nghệ mới để hỗ trợ các tỉnh cây giống chuối nuôi cấy mô sạch bệnh và công nghệ chuyển màu chuối già sang màu vàng rất đẹp, có thể cạnh tranh xuất khẩu chuối với Philipin, Đài Loan vào thị trường châu Âu, Nhật Bản.
Thời gian gần đây các tỉnh Cà Mau, Đồng Nai, Quảng Ngãi… đã có những bước cải thiện trong việc trồng và phát triển cây chuối tiến tới xuất khẩu sản phẩm chuối.4: Diện tích, năng suất, sản lượng chuối Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Diện tích 104,7 108,1 109,7 111,7 116,2 119,5 (Nghìn ha) Năng suất 14,32 14,23 15,10 16,46 15,96 15,74 (tấn/ha) Sản lượng 1344,2 1368,6 1485,8 1602,5 1611,8 1660,8 (Nghìn tấn) (Nguồn: Cục trồng trọt , 2012)[26] Theo số liệu thống kê năm 2010, diện tích chuối của cả nước là 119,5 nghìn ha, sản lượng xấp xỉ 1,66 triệu tấn, vùng trồng chuối lớn nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 30% diện tích, Đồng bằng Sông Hồng 16%, Bắc Trung Bộ 16% [26]. Tuy nhiên, diện tích trồng chuối không tập trung, với đặc điểm là cây ăn quả ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích, nên chuối được trồng như một cây tận dụng đất trong các vườn cây ăn quả của các hộ gia đình. Hiện tại, một số tỉnh miền Trung và miền Nam như: Thanh Hoá, Nghệ An, Khánh Hoà, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích chuối từ 3000 - 8000 ha. Trong khi, các tỉnh trồng nhiều chuối ở miền Bắc như Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ có diện tích chuối chưa đạt 3000 ha [26].
n 10 Chuối của Việt Nam xuất khẩu sang một số nước như Australia, Nga, Hà Lan, Trung Quốc, Đức, Mông Cổ, Newziland, Mỹ. Trong đó, tập trung chủ yếu vào thị trường Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, khối lượng chuối xuất khẩu của Việt Nam rất thấp, đạt khoảng 100 nghìn tấn/năm, chưa tương xứng với tiềm năng và tổng sản lượng chuối.