Đặt vấn đề Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cũng như nền y học cổ truyền lâu đời. Các cây thuốc cũng như bài thuốc dân gian được sử dụng phổ biến trong nhân dân để phòng, trị bệnh. Công dụng của các loại thảo dược và các hợp chất chiết xuất từ thảo dược ngày càng được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, do khai thác quá mức, nạn phá rừng nên nguồn tài nguyên cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Việc gây trồng cây dược liệu phục vụ cho bảo tồn, khai thác lâu dài nguồn dược liệu là việc làm cấp thiết. Cây Thìa Canh (Gymnema sylvestre) là một loài cây thân thảo (Gymnema) họ Apocynaceae, bản địa của rừng nhiệt đới miền nam và miền trung Ấn Độ. Cây Thìa Canh được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Ấn độ, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc,Việt Nam, v.v… [15],[16],[17],[18] gymnemic acid trong cây Thìa Canh có tác dụng làm hạ đường huyết, với cơ chế tác dụng đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tuỵ, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipid máu. Trong tự nhiên, Cây thìa Canh tái sinh thông qua hạt, đoạn thân tươi.
Việc gây trồng cây Thìa Canh đã được tiến hành ở một số nơi thông qua đoạn thân, hạt, tuy nhiên các phương pháp nhân giống trên cho hiệu quả không cao. Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một phương pháp nhân giống cây trồng cho hiệu quả cao. Nhiều loại cây dược liệu đã được nhân giống thành công thông qua phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ”Nghiên cứu nhân nhanh Cây Thìa Canh (Gymnema sylvestre) thông qua phương pháp nuôi cấy mô tế bào”.
Mục tiêu nghiên cứu - Nhân nhanh Cây Thìa Canh (Gymnema sylvestre) thông qua phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Yêu cầu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của chất khử trùng tới khả Tạo mẫu sạch sinh chồi Cây Thìa Canh. - Xác định được ảnh hưởng của (BA, kinetin, nước dừa) tới khả năng nhân nhanh chồi của Cây Thìa Canh. - Xác định được ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng (NAA và BA, Kinetin), nước dừa tới khả năng nhân nhanh cây Thìa Canh.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng được quay trình nhân giống cây Thìa Canh bằng kỹ thuật in vitro. - Kết quả nghiên cứu đạt được có thể bổ sung vào quy trình nhân giống danh mục cây trồng. - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá lại kiến thức đã học vào nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn - Đề xuất quy trình hoàn chỉnh nhân giống cây Thìa Canh bằng kỹ thuật in vitro, từ đó đảm bảo chủ động trong sản xuất cây giống với số lượng lớn, sạch bệnh, chất lượng đồng đều, đáp ứng nhu cầu cây giống cho sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất và phục vụ nhu cầu cung cấp dược liệu sạch trong sản xuất. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cây Thìa Canh 2. Nguồn gốc và phân loại Cây Thìa Canh hay còn gọi là Dây muôi, với danh pháp khoa học là Gymnema sylvetre (Retz), chi Lõa ti (Gymnema), họ Thiên lý (Asclepiada ceae), bộ Long đờm (Gentianales), lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida), ngành Thực vật có hoa; Mộc lan, giới Thực vật Hạt kín (Manoliopsida).
Ở Việt Nam, chi Lõa ti (Gymnema) có khoảng 8 loài [15],[16],[17],. Cây thường mọc trong các bờ bụi, hàng rào tại một số nơi ở mìn Bắc Việt Nam từ Hải Hưng, Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Kon Tum,…Ngoài ra, còn phân bố ở Trung Quốc, Ấn độ, Inđônêxia. Cây Thìa Canh dược thu hái các bộ phận của toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Phân loại: Giới (regnum) Plantae Bộ (ordo) Gentianales Họ (familia) Apocynaceae Phân họ (subfamilia) Asclepiadoideae Tông (tribus) Marsdenieae Chi (genus) Gymnema Loài (species) G.
Đặc điểm thực vật học của Cây Thìa Canh Dây leo, cao từ 3-5 m. Thân non màu xanh, phủ lông mịn; thân già màu nâu, có lỗ vỏ, đường kính lỗ vỏ từ 0,5-1 mm. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng hay hơi vàng. Cuống dài 3-5 mm; đường kính 2-3mm; phiến hình bầu dục, trứng hay trứng ngược, dài 6-7cm, rộng 2,5-5cm, gốc thuôn, mép nguyên, ngọn nhọn; có 4-6 cặp gân phụ, rõ ở mặt dưới.
Hoa nhỏ màu trắng hơi vàng, xếp thành xim dạng tán ở nách lá, dài 8mm, rộng 12-15mm. Đài chia 5, các thuỳ dài 1mm, có lông mịn và rìa lông. Tràng 5, dính nhau thành ống, dài 1,8-2 mm, mặt n 4 ngoài nhẵn; tràng phụ gắn với tràng, có 5 răng, dính với họng tràng. Cột nhị nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5mm, rộng 0,8-1mm.
Bộ nhị có bao phấn ngắn; khối phấn gồm hai thùy, dài khoảng 0,2mm, liên kết với nhau nhờ trung đới màu vàng nâu. Bộ nhụy có vòi với đầu rộng hình nón, vượt quá bao phấn. Quả đại dài 5-6cm, rộng ở dưới, đường kính chỗ lớn nhất khoảng 1,5cm. Hạt dẹp, dài 3mm, có mào lông màu trắng, dài khoảng 3-3,5cm, thường có khoảng 40 hạt trong một quả.
Gymnema sylvestre (Retz. cành mang hoa: 2. đài mở với các tuyến: 4. cột nhị nhụy: 5.
cơ quan truyền phấn và khối phấn (pollinarium): 7. hạt (hình theo Tsiang & Li. Công dụng của Cây Thìa Canh Hoạt chất chính trong Cây Thìa Canh là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tụy, tăng cường hoạt lực n 5 của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipit máu.[8] Trong y học cổ truyền, cây thường dùng trị dái đường với liều 4g lá khô đủ để làm ngưng glucoza. Lá cũng dùng làm thuốc dễ tiêu hóa, còn dùng tán thành bột để chống độc.
Cây Thìa Canh đã được sử dụng ở Ấn độ từ 2000 năm nay để trị bệnh “nước tiểu ngọt”. Ngoài ra cây còn được dùng đắp lên vết rắn độc cắn. Ở Trung Quốc, người ta dùng cả cây bỏ rễ và quả làm thuốc trị phong thấp tê bại, viêm mạch máu, rắn độc cắn, trĩ và các vết thương do dao.Tình hình nghiên cứu trên thế giới. - Cây Thìa canh, có tên khoa học là gymnema sylvestre, 1 loại cây dây leo, thân gỗ, được sử dụng tại Ấn độ, Trung quốc hơn 2000 năm nay để trị bệnh nước tiểu ngọt như mật, nó còn có tên Gurmar, có nghĩa là kẻ huỷ diệt đường.
Dây thìa canh được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Ấn độ với tên Diabeticin, Mỹ với tên Sugarest, Singapore với tên Glucos care, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc…[15],[16]. - Loại cây này giúp hỗ trợ tuyến tụy sản suất ra insulin trong tiểu đường tuýp 2 nên là một phương pháp điều trị tự nhiên khá tốt cho căn bệnh này. Dây thìa canh cũng cải thiện khả năng giảm đường huyết của insulin trong cả tiểu đường tuýp 1 và tuýp 2. Nó làm giảm cảm giác thèm ngọt.
Loại thảo dược này có thể là một thay thế tuyệt vời cho các loại thuốc uống giảm đường huyết cho tiểu đường tuýp 2. Tình hình nghiên cứu trong nước - Tại Việt Nam, từ năm 2006 các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Dược Hà Nội do tiến sĩ Trần Văn Ơn, phụ trách bộ môn Thực vật chủ trì đã lần đầu tiên điều tra phát hiện Dây thìa canh tại 1 số tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Nhận thấy đây là 1 cây thuốc quý, nhóm nghiên cứu đã tiến n 6 hành thu thập mẫu, phân loại, nghiên cứu thành phần hoá học, tổ chức nuôi trồng để tạo nguồn dược liệu sạch, ổn định để sản xuất sản phẩm phục vụ người bệnh. - Kết quả nghiên cứu đề tài được công bố trên tạp chí Dược học - Bộ y tế số 391 tháng 11/2008 cho thấy dây thìa canh tại Việt Nam cũng cho tác dụng hạ đường huyết như dây thìa canh ở nhiều nước khác.
Tác dụng hạ đường huyết của dây thìa canh có những điểm tương đống như insulin nhanh: đỉnh tác dụng hạ đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ đường huyết tương đương ở thời điểm 2h và 4h. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng giảm cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả. - Như vậy dây thìa canh có thể ứng dụng điều trị cho cả bệnh nhân tiểu đường týp 1 hoặc týp 2 phối hợp với các thuốc điều trị khác để kiểm soát và làm giảm đường huyết, ổn định kéo dài hàm lượng đường huyết, phòng ngừa biến chứng, giảm cholesterol và lipid trong máu, nâng cao đời sống tình dục của bệnh nhân tiểu đường Nam giới. Hiệu quả sẽ rất khả quan đạt được sau đợt dùng 2-3 tháng, kết hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.
- Có thể nói việc tìm ra cây Cây thìa canh tại Viêt Nam - một dược liệu quý hiếm, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tiểu đường và mỡ máu, mở ra triển vọng lớn ứng dụng các cây thuốc quý Việt Nam cho sức khoẻ con người - một hướng giải pháp an toàn lâu dài cho bệnh nhân tiểu đường luôn sống vui khỏe. Khái niệm về nuôi cấy mô tế bào thực vật - Nuôi cấy mô là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình nuôi cấy vô trùng in vitro các bộ phân tách rời khác nhau của thực vật. Kỹ thuật nuôi cấy mô dùng cho cả hai mục đích nhân giống và cải thiện di truyền, sản xuất sinh khối các sản phẩm hóa sinh, bệnh học thực vật, duy trì và bảo quản các nguồn gen n 7 quý… Các hoạt động này được bao hàm trong thuật ngữ công nghệ sinh học [14]. - Nguyên tắc cơ bản của nhân giống vô tính là: Mọi cơ thể sinh vật phức tạp đều do nhiều đơn vị nhỏ là các tế bào hợp thành.
Các tế bào đã phân hóa đều mang thông tin có trong tế bào đầu tiên và là những tế bào độc lập, từ đó để xây dựng lại toàn bộ cơ thể [6]. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật 2. Tính toàn năng của tế bào thực vật Năm 1902 lần đầu tiên nhà thực vật học người Đức Haberlandt đã đưa ra quan niệm: “Mỗi tế bào bất kỳ (đã biệt hoá) lấy từ một cơ thể thực vật đều có khả năng tiềm tàng để có thể phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh”.