phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn. gdm ba chong: Chương l: Cơ sở lí luận Chương 2: Đặc điểm các lớp từ ngữ được giáo viên và học sinh sử dụng trong tiết sinh hoat lop Chương 3: Đặc điểm các hành động ngôn ngữ được giáo viên và học sinh sử dụng trong tiết sinh hoạt lớp Chuong 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN. Khái quát về từ trong tiếng Việt 1. Khái niệm từ tiếng Việt Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ vì vậy đơn vị này được quan tâm.
nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Do xuất phát từ những góc nhìn không. giống nhau nên các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về từ. 'Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thé tach khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc.
lập vả là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ phip” [54, tr.64] Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ. nhất có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chit” viét rời” [27, tr. “Theo Nguyễn Văn Tu: “Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử” [dẫn theo 26, tr. Hồ Lê thì định nghĩa: "Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” [41, tr104).
'Ở đây, chúng tôi không bản luận các định nghĩa khác nhau về từ mà chỉ chọn một định nghĩa, một cách hiểu để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu đề. Chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu vẻ từ tiếng Việt: “Từ của. tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để cấu tạo. Phân loại các lớp từ Từ vựng là bộ phận quan trọng, cơ bản của ngôn ngữ.
Toàn bộ đời sống. vật chất và tình thần của con người nói riêng, thế giới khách quan muôn màu, muôn vẻ nói chung được phản ánh trong ngôn ngữ và được giữ lại trong vốn từ vựng của ngôn ngữ. Vì vậy, khi nói đến ngôn ngữ của một dân tộc thì không thể không nói đến một bình diện rất quan trọng của ngôn ngữ đó là vốn từ. Theo Lưu Vân Lăng thì vốn từ là “toàn bộ các từ của một ngôn ngữ.
hoặc của một phương ngữ; bộ phân chung các thành phần từ vựng của ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của nhà văn, một khuynh hướng văn học nào đó” [dẫn theo 59, tr428]. Trong hệ thống vốn từ, người ta có thể chia thành nhiều lớp từ, tùy theo. tiêu chí phân chia. Phổ biến hiện nay có các cách phân chia như sau: ~ Phân chia theo cấu tạo (dựa vào số lượng hình vị hoặc số lượng tiếng.
tạo nên từ): ste dom và từ phức. ~ Phân chia theo nguồn gốc: rừ ;huân Liệt và từ vay mượn. - Phan chia theo phạm vỉ sử dụng: rừ toàn đân, từ nghề nghiệp, từ địa phương, tiếng lóng, thuật ngữ. - Phân chia theo phong cách sử dụng: phong cách khẩu ngữ, phong cách khoa học, phong cách văn chương, phong cách hành chính, phong cách pháp lí, phong cách quảng cáo.
~ Phân chia theo tinh chất từ loại: danh rừ, động từ, tính từ, đại từ, tình thái từ, quan hệ từ, số lượng từ, chỉ từ, phó từ. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các lớp từ ngữ: xưng hô, nghề nghiệp và lớp từ tình thái. Đây là những lớp từ tiêu biểu được GV va HS sit dung trong tiết sinh hoạt lớp ở trường THCS. Lớp từ xưnghô a.
Xưng hô là sự khởi đầu của quá trình giao tiếp, là yếu tố quan trọng tham gia vào sự thành công của cuộc thoại. Ngoài chức năng thiết lập quan hệ tiếp xúc, tương tác với nhau lớp từ xưng hô còn có chức năng biểu lộ thái độ tình cảm giữa những người cùng đối thoại. Hiện nay cũng có nhiều quan niệm. khác nhau về lớp từ này.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa xưng hô là “Tu xung minh và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất các mối quan hệ với nhau” [45, tr. Phạm Ngọc Thưởng (1999) tách bạch hai yếu tố xưng và hộ, trong đó "xưng là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào. trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói vả mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình” còn *hó là hành đông người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong loi néi” (56, tr12]. Nguyễn Văn Chiến định nghĩa “Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được *[17, tr64].
thực hiện trong giao tiếp. Đỗ Hữu Châu lại định nghĩa “Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gdm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa. mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào. Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc.
giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là người nói” [1 I, tr. Theo ông chỉ có. ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai mới thực sự là các ngôi xưng hô bởi vì những người đang giao tiếp với nhau dùng chúng để “chỉ” nhau. Ngôi thứ ba trong.
10 thực tế được dùng để chiếu vật, người hay sự vật được nói tới chứ không tham gia vào cuộc giao tiếp, không phải là nhân vật góp phần tạo nên cuộc giao tiếp. Từ các phát biểu trên, chúng tôi thấy từ xưng hô có nhiều quan niệm. Nhưng các tác giả đều thống nhất: Từ xưng hô là một hệ thống thuộc nhiều lớp từ loại của ngôn ngữ được đưa ra sử dụng để xưng (tự quy. chiếu) và hô (quy chiếu vào người khác).
Trong luận văn này, chúng tôi chú trọng cách dùng từ xưng hô của các nhân vật trực tiếp tham gia cuộc thoại. Như vậy, từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc đề hổ (gọi) một người nào đó ở một ngôi giao tiếp nhất định. Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt “Trong tiếng Việt, từ xưng hô rất đa dạng về kiểu loại, linh hoạt và giàu. màu sắc biểu cảm trong sử dụng.
“Theo các công trình nghiên cứu, từ xưng hô được chia thành hai nhóm lớn: Đại từ nhân xưng và danh từ dùng dé xưng hô. ~ Đại từ nhân xưng: là những từ dùng để thay thế cho người nói như tao, tôi, chúng tôi, mày, chúng mày. hoặc đễ chỉ người hoặc vật được nói đến. như nó, ho, han, Theo thống kê của Nguyễn Văn Chiến thì tiếng Việt có số lượng đại từ.
nhân xưng không nhiễu, chỉ khoảng 22 từ [17, tr. Dai từ nhân xưng là những từ mang ý nghĩa chiếu vật. Mỗi đại từ khi tham gia giao tiếp tự nó không mang nghĩa trực tiếp mà vỏ ngữ âm của nó chỉ ứng với những vật cụ thể theo từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Tức là nghĩa của chúng được xác định trong quá trình giao tiếp.
~ Danh từ dùng để xưng hô: trong tiếng Việt sử dụng đại từ nhân xưng. rất hạn chế. Bởi những đại từ này không diễn đạt đầy đủ sự tỉnh tế trong giao. Vì vậy ta phải sử dụng danh từ hoặc cụm danh từ thay thế cho vị trí của.
Đó là: (1) Danh từ chỉ quan hệ thân tộc để xưng hô: dng, ba, cha, me, chú, bác, dì, đượng.: (2) Danh từ riêng để xưng hô: Lan, Tháo, Nguyên, Tuyên, Tỉ (3) Danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp để xưng hô: Giám đốc, Chủ tịch. Lớp trưởng, Tổ trưởng, Bác sĩ, Kỹ sư, (4) Dùng danh từ chỉ quan hệ xã hội để xưng hô: 16, cậu, mình, bổ, cưng. 'Nhờ sự có mặt của các lớp danh từ xưng hô này mà số lượng từ xưng hô tăng lên rất nhiều. Ngoài xã hội nói chung, trong dạy học nói riêng, từ xưng hô luôn được cân nhắc bởi việc xác định vị thế của chủ thể và khách thể.
giao tiếp để có sự lựa chọn phủ hợp. Tuy nhiên dù ở phạm vi giao tiếp nào thì những từ xưng hô cũng tạo thành từng cặp tương ứng giữa xưng và hô, nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn” vẫn luôn được xem là truyền thống tốt đẹp. của người Việt Nam. Lớp từ nghề nghiệp Khái niệm từ nghề nghiệp, cho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong giới nghiên cứu Việt ngữ học.
Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng Trọng Phiến trong công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt nhẫn mạnh tính sử dụng phổ biến của lớp từ này trong những người làm nghề: “Từ nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những. đơn vị từ ngữ được sử dụng phô biến trong phạm vi của những người cùng. làm một nghề nào đó” [15, tr. Tác giả Hoàng Trọng Canh đưa ra kết luận mới: “cần phân biệt từ nghề p va tir chi nghề”.
Toàn bộ các “từ chỉ công cụ, hoạt động, sản phẩm. 12 của một nghề thì gọi là từ chỉ nghề". Còn “đối với lớp từ nghề nghiệp, xác lập. lớp từ này không chỉ căn cứ về phạm vi sử dụng theo tính chất xã hội của người dùng mà còn phải đặt chúng trong cả quan hệ với các lớp từ địa phương, xét về phạm vi sử dụng theo địa lí” [4, tr.
Còn theo Đỗ Hữu Châu thì: '*Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn. vị từ vựng được sử dụng đề phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của. các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động. tri 6c” [8, tr253] Như vậy, đặc điểm chung nhất mà các định nghĩa trên cho thấy, đó là: từ ngữ nghề nghiệp là những đơn vị từ vựng được sử dụng phổ biến trong.
phạm vỉ một ngành nghẻ nhất định. (1) Chấm bài, soạn bài, viết bảng, giáo án,. (2) chài, quăng lưới, đơm, vó,. (3) Hóa đơn, chứng từ, số quỹ tiền mặi,.
(4) Thìu, chòong, lò chợ, lò thượng, đi lò. ( nghề thợ mỏ) (5) BO, vét, xị, phủ, lót sống. (nghề thợ mài) (6) Cày, bừa, gieo, xạ, bón, đỏ đuôi, nứt nanh,. (nghề nông) (1) Thị công, khởi công, đồ móng, đồ mái.( xây dựng) (§) Đơm nút, sẽ lai, lên lai.