CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ NGHĨA VỤ TÓ TỤNG DÂN SỰ CUA DUONG SỰ TRONG BOI CANH CẢI CÁCH TƯ PHÁP THEO NGHỊ QUYET ĐẠI HỘI LAN THỨ XIII CUA DANG 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC DIEM CUA NGHĨA VỤ TO TUNG DÂN SỰ CUA DUONG SỰ 1. Khai niệm nghĩa vụ tổ tung dân sự của đương sự Đề thoả mãn các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, con người có thé tự mình lựa chọn giao kết và thiết lập các quan hệ dân sự. Đây là những nhu cầu khách quan gắn với sự tồn tại, phát triển tất yếu của con người và xã hội?.
Thuật ngữ “dân sự” được diễn đạt theo những cách khác nhau. Theo từ điển Hán Việt, “đân sự là các việc thuộc quyên loi riêng ”!°. Theo nhà nghiên cứu Vũ Van Mau: “Dân luật (luật dân sự) la những nguyên tắc cai quản sự giao thiệp giữa tư nhân”!! — ý chỉ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ có tính chất “riêng tư” của các chủ thê. Trong khoa học pháp lý, danh từ “dan sự” thường được hiểu như một bộ phận của lĩnh vực luật tư, bản chất là sự tự do, tự nguyện, bình đăng trong việc thỏa thuận thiết lập các quyền và nghĩa vụ của các bên.
Khi các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách quan, mang tính quy luật, bởi thực tế, con người vốn là thực thé không hoàn hảo nên khi đặt chung vào cùng một mối quan hệ thì vấn đề nảy sinh mâu thuẫn là lẽ thường tình (dưới quan điểm của Triết học và Phật giáo)!?. Montesqieu cũng đã nhận định về điều này từ năm 1748 rang: “Con người, như một thực thể vật lý, cũng bị các quy luật bat biến cai trị, giống như mọi vật thé khác. Nhưng con người, là một thực thé có trí tuệ, lại không ngừng vi phạm các luật do Thượng dé quy định, và thay đổi ngay cả các luật do chính mình quy định ra. Con người phải tự dan dat lấy mình, nhưng họ lại bị hạn chế, hay phạm điều dốt nát và lam lẫn như tat cả các trí tuệ hữu hạn, có khi họ đánh mat cả những kiến thức don sơ của mình nữa "13.
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, trong một hệ thống pháp luật, song song với việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ, Nhà nước cần thiết lập các cơ chế bảo đảm thực thi các quyền và nghĩa vụ đó. Theo đó, khi tranh chap dân sự xảy ra, cần xây dựng các phương thức để giải quyết nó. Với tính chất đa dạng, phong phú, phức tạp của các quan hệ dân sự, Nhà nước đã thiết lập nhiều phương thức giải quyết tranh chấp khác Nguyễn Văn Hợi (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, Nxb Công an Nhân dân, tr. '© Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, Nxb.
Trường Thi — Sài Gòn, tr. !! Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 12 Trần Anh Tuan, Pháp luật TTDS Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, tai dia chỉ http://tks.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/414 ngày truy cập 25/04/2023. !3 Motesquieu (1996), Tinh than pháp luật, Nxb.
Giáo duc, Hà Nội, 1996,tr. Các chủ thé có quyền lựa chọn các phương thức như tự bảo vệ, yêu cầu TA hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thâm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có ưu và nhược điểm, nhưng có thể khăng định, phương thức yêu cầu tòa án bảo vệ là công cụ hữu hiệu mà xã hội và Nhà nước có thé sử dung dé giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ich'*. Trong quá trình TA giải quyết các quan hệ dân sự, để việc điều hành công lý phân minh và có hiệu quả thì mọi chủ thé đều phải tuân thủ những trình tự, thủ tục, thể thức chặt chẽ do pháp luật quy định - nó được gọi là “TTDS”.
Nhận định về luật TTDS, cố Giáo sư Nguyễn Huy Dau đã viết: “Một quyên lợi được luật pháp công nhận nhiều khi không đủ bảo đảm cho người có chủ quyền hưởng dung: quyên lợi có thé bị phủ nhận, bị xâm phạm”, vì vậy “chủ thể quyên lợi bị tốn thương có quyên buộc tha — nhân phải tôn trọng quyên lợi bị đe dọa bằng những phương tiện hợp pháp”, phương tiện này “danh xưng là Luật tổ tụng 15 Hay như John Henry Marryman, khi nghiên cứu về luật dân sự, ông cho rằng: luật dân sự là trung tâm của luật về nội dụng trong truyền thống luật dân sự, nên thủ tục TTDS cũng là trung tâm của luật về thử tuc!®. Xét về mối liên hệ giữa luật dân sự và luật TTDS có thé nhận thấy, vai tro, “sứ mệnh” của luật TTDS là bảo vệ các lợi ich hợp pháp trong pháp luật nội dung, làm cho nó được hiện thực hóa chứ không chỉ là quyền lợi trên giấy. Luật nội dung sẽ không phát huy được hiệu quả của mình nếu trong quá trình xét xử, Tòa án không áp dụng đúng pháp luật về tố tụng. Điều này cũng đã được PGS.
Phan Hữu Thư nhắn mạnh trong công trình nghiên cứu của mình rằng: “Chinh thủ tục tố tụng ảnh hưởng hướng lớn đến sự hình thành và phát triển của pháp luật về nội dung, là nên tảng thực hiện pháp luật về nội dung. Pháp luật về nội dung sẽ mãi mãi chỉ là lý luận nếu ching ta không xây dựng một cơ chế tô tụng thích hợp dé dua pháp luật nội dung vào thực tiễn ”1”, Như vậy, bằng việc sử dụng pháp luật TTDS, Tham phán có thé giúp người bị xâm phạm được khôi phục, thiết lập lại các quyền lợi hợp pháp đã mắt. Thuật ngữ “tố tụng” có nhiều cách hiểu khác nhau. Xét về nguồn gốc Hán-Việt, tác giả Lê Gia giải thích “tố” là vạch tội và đưa ra cửa công dé phân giải phải trái: “tụng” là thưa kiện ở cửa công dé xin phân phải trái!Š.
Tác giả Đào Duy Anh cho rằng “fo tung là việc thưa kiện ”!°. Hán Việt tân từ điển của Hoàng Thúc Châm đưa ra định nghĩa, tố tụng là “vì anh chấp về quyên lợi hoặc vì duyên cớ khác, kiện nhau ở TA, yêu cầu phân !4 Nguyễn Thị Thu Hà (2022), Cung cấp, Thu thập chứng cứ của đương sự trong TTDS Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, tr. 'S Nguyễn Huy Dau (1962), Luật Dân sự - Tổ tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, Sài Gòn, tr.
'6 John Hery Meryman (1998), Truyén thống luật dân sự giới thiệu về các hệ thong luật Tây Au và Mỹ - La tinh, ky yếu Hội thảo về TTDS. Hà Nội, tr. '7 Phan Hữu Thư (2004), Tiến tới xây dựng bộ luật TTDS của thời kỳ đối mới, Nxb. '8 Lê Gia (1999), Tiếng nói nôm na, Nxb.
Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1027 — 1028 !? Đào Duy Anh (1947), Từ điển Hán Việt, Nxb. Trường Thi, Sài Gòn, tr.
12 xử phải trái trước pháp luật ”?0. Theo Từ điển Luật học của Anh thì tố tụng (procedure) là những bước tiễn hành mang tính hình thức mà thông qua đó vụ kiện được giải quyết!. Từ điển Luật học của Pháp lại định nghĩa “tố tụng” là toàn bộ những thê thức phải theo dé đệ trình một yêu cau trước Thâm phan”. Trong các công trình nghiên cứu khoa học, các học giải cũng có những cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “tố tụng”.
Giáo sư Vũ Văn Mẫu cho rang, “6 tung” tức là “thủ tuc kiện cáo”?3. Hay theo phân tích của Giáo sư Nguyễn Huy Dau từ việc nghiên cứu luật của Nhật Ban và Pháp thì nói đến “to tung” là nói đến “môn luật liên quan đến Tòa án, đến quyên tư pháp” và theo đó, TTDS là “định lệ tổ chức việc chỉ phối là điều hành công lý, đặt ra đề đảm bảo cho tư nhân các chế tài và tôn trọng quyên lợi trong tư luật ”?“. Còn theo tác giả Tống Công Cường, “TTDS được lý giải là thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án ”25. Có thé thấy, mặc dù có những cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm rằng, TTDS là một quy trình được thiết lập dé bảo vệ các quyền lợi riêng tư.
Nói cách khác, TTDS là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đề giải quyết các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) tại TA. Khi một vụ việc dân sự được hình thành thì đồng thời sẽ có rất nhiều các chủ thé phải tham gia vào quá trình tố tung. Các chủ thể đó gồm có người tiến hành tô tụng và người tham gia tố tụng. Tuỳ thuộc vào mục đích, vai trò tham gia tố tụng mà các chủ thé có những tư cách pháp lý khác nhau.
Trong đó, đương sự có tu cách đặc biệt nhất, bởi họ là chủ thể có quyền lợi trực tiếp trong việc giải quyết các quan hệ pháp luật dân sự. Lợi ích của đương sự là nguyên nhân và mục đích của quá trình TTDS. Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa: đương sự - “người là đối tượng trong một sự việc nào đó được dua ra giải quyết 25. Hán Việt tân từ điển của Hoàng Thúc Châm định nghĩa đương sự là “#øgười có quan hệ trực tiếp đến việc dy, như nguyên cáo hoặc bị cáo trong một vụ kiện "27.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, đương sự trong vụ việc dân sự được hiểu là người tham gia tố tung dé bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyên, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự?3. Các đương sự trong vụ việc dân sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia với tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS; người yêu cau giải quyết việc 20 Hoang Thúc Trâm (1950), Hán Việt tân từ điển, tr. ?! Oxford Reference: A dictionary of law, Oxford University Press, New York, 1994, page. 22 Raymond Guillien, Jean Vincent: Lexique des termes juridiques, Dalloz, 2001, tr.
?3 Vũ Văn Mau, tlđd, tr. 2 Nguyễn Huy Dau, tldd, tr. - - ?5 Tông Công Cường (2007), Luật TTDS Việt Nam — Nghiên cứu so sánh, Nxb Dai học Quoc gia TP Hồ Chí Minh, tr. 26 Viện ngôn ngữ học (2004), Tir điển tiếng Việt, nhà xuất bản Da Nẵng, tr.
27 Hoàng thúc Trâm (1950), Hán Việt tân từ điển, tr. 28 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình luật TTDS Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.