CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc tính sinh học của cỏ hòa thảo Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28 họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Cỏ hoà thảo chiếm phần lớn trong thảm cỏ 95 - 98% và trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại chiếm 70 - 80% (Từ Quang Hiển và các cộng sự, 2002) [6].
Đặc tính sinh thái Theo các tác giả Từ Quang Hiển và các cộng sự, 2002 [6]. Cỏ hoà thảo phân bố rộng rãi. Chúng có thể sinh trưởng phát triển được trên nhiều vùng đất khô hạn, đất ẩm thấp, đất ngập nước, đất giàu và nghèo dinh dưỡng. Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng tốt như: cỏ Decumbens, cỏ Xương cá, cỏ Lông đồi (Eulalia).
Có những loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất ẩm thấp, độ ẩm trung bình 60 - 80% như: Cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (Festucarubra). Có loài sống được cả những nơi đất ngập nước, đất lầy thụt như: cỏ lồng vực (Echinochloa crusgalli), cỏ bấc (Juncus effusus), cỏ môi (Leersia hexandra). Dựa vào những đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà ta có thể chọn và trồng thích nghi với những điều kiện khí hậu và địa chất tương tự như vùng gốc của chúng. Đặc tính sinh vật Cỏ hoà thảo là cây cỏ có một lá mầm (đơn tử diệp), thân tròn hoặc bầu dục, lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, gân lá song song, thân cỏ thuộc loại thân rạ rỗng (trừ mấu đốt), cũng có loại n 4 thân đặc như cỏ Voi, Goatemala, có khi hoá gỗ (tre, nứa).
Rễ thuộc loại rễ chùm, hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió. Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng của nó, người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại: - Loại thân rễ. Loại này thân nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ Tranh (Imperata cylindrica). Loại này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thấp, thích hợp chăn thả nhẹ, không chăn thả với mật độ đông, thời gian lâu vì cỏ không chịu được dẫm đạp và vùng đất dí chặt.
- Loại thân bụi. Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa. Nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất hoặc trên mặt đất. Cỏ này cho năng suất cao nhưng đòi hỏi đất tốt, tơi xốp thoáng khí cao.
Do tốc độ đẻ nhanh, cao nên đòi hỏi phải trồng thưa. Đại diện là cỏ Paspalum atratum, cỏ Mộc Châu (Paspalum urvillei), cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum). Cỏ này thân nhỏ, mềm, nằm ngả trên mặt đất giống như dây lang. Từ các đốt có thể có khả năng (hoặc không) đâm rễ xuống mặt đất.
Do thân bò và nằm ngả trên mặt đất nên nó tạo thành một thảm cỏ dày đặc che phủ kín mặt đất. Cỏ này có khả năng chịu giẫm đạp tốt nên dùng được trong chăn thả, hay thu cắt làm cỏ khô. Nhưng do đặc tính bò nên khó thu cắt và năng suất thường thấp hơn so với các cỏ khác. Đại diện là cỏ Pangola (Digitaria Decumbens), cỏ Lông Para (Brachiaria multica)… - Loại thân đứng.
Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới đất hoặc hom trồng. Mầm vươn thẳng lên giống như cây mía, cây ngô. Thân cao, to, cho năng suất cao. Đại diện là cỏ voi (Penisetum purpureum).
Đặc tính sinh lý * Nhu cầu về nước: Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu 214 - 216 gram. Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn. Từ lúc nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30% Giai đoạn phát triển cành: 75% Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
Đối với cỏ hòa thảo dùng để chăn thả yêu cầu về độ ẩm thấp hơn cỏ cắt vì thảm cỏ thấp hơn, cành lá cũng phát triển kém hơn. Tuy nhiên, vẫn cần đảm bảo tưới đủ nước và giữ độ ẩm đất từ 50 - 60%. * Nhu cầu về dinh dưỡng Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn và đạm, lân, kaly. Nhu cầu dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.
Giai đoạn I: Từ nảy mầm đến phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N,P,K Giai đoạn II: Phân nhánh đòi hỏi cần nhiều N,P Giai đoạn III: Ra hoa, hình thành hạt cần nhiều P,K. Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn, đồng thời cần chống rét cho cỏ bằng cách bón phân cho cỏ vào cuối thu, đầu đông. * Nhu cầu về không khí Các loại cỏ thuộc họ thân rễ, thân bụi, thân đứng chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp thoáng khí. Các loại cỏ thuộc thân bụi, chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu đựng được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn.
* Tính chịu đựng sương giá và kháng xuân Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu, đầu đông chúng vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường, còn loại chịu sương giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặc bị chết vào mùa đông. n 6 Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ qua mùa đông. Nó thể hiện khả năng cỏ chịu được sự chênh lệch nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất, sự chênh lệch này làm cho quá trình vận chuyển chất dinh dưỡng trong thân cây cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên cỏ có tính kháng xuân kém sẽ bị chết. Tuy nhiên, tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội, cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt.
Loại cỏ mà mùa xuân phục hồi nhanh thì kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm. Cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân tốt và ngược lại. Loại có bộ phận trên mặt đất bị chết trong vụ thu đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại. Đặc tính sinh trưởng Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tía sinh trải qua 3 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt, lúc này tốc độ sinh trưởng chậm, có giá trị dinh dưỡng cao nhưng năng suất thấp.
Giai đoạn sau khi thu cắt, lá cây mất đi, cây không có khả năng chắn ánh sáng mặt trời trong khi đó cây cần nhiều năng lượng để phát triển. Do đó, để bù đắp lại sự thiếu hụt đó, năng lượng được huy động từ rễ. Nên giai đoạn này cây bị ngập úng sẽ rất dễ chết do không có lá để thoát hơi nước, mặt khác rễ cỏ yếu nên hay bị tổn thương dẫn đến thối rễ và cây cỏ chết. + Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc sau khi cắt 15 - 20 ngày, lúc này cỏ sinh trưởng và phát triển nhanh.
Trong giai đoạn này, lá chứa đủ protein và năng lượng thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc. Cỏ có chất lượng cao và số lượng lớn. + Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày, cỏ sinh trưởng chậm hoặc ngừng hẳn. Giai đoạn này lá sử dụng nhiều năng lượng để hô hấp hơn là chúng có thể tạo ra nhờ quang hợp.
Cỏ ở phần thân chiếm đa số n 7 và nhiều xơ. Hàm lượng dinh dưỡng cao, số lượng nhiều, tuy nhiên khả năng tiêu hóa của gia súc đối với lá và thân cây giai đoạn này thấp dần. Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời gian thu cắt hợp lý. Thường chăn thả hay thu cắt khi kết thúc giai đoạn 2 hoặc đầu giai đoạn 3 và thời gian nghỉ hợp lý để duy trì cây cỏ lâu dài.
Sức sống của cỏ hoà thảo Sức sống của cỏ hoà thảo không giống nhau, có loài sống một năm nhưng cũng có loài sống lâu năm (2, 3, 4 đến 10 năm) thường chia làm 4 loại sau: Loại sống một năm thường gọi là cỏ hàng năm: Chúng chỉ sống trong vòng 1 năm rồi tàn lụi và chết điển hình là cỏ Lồng vực, cỏ Ngô (Zeamays), cỏ Sudăng. Loại có sức sống ngắn (2 - 3 năm) như cỏ Dầy (Hemarthria compressa), cỏ Mật (Melinis minutiflora). Loại cỏ có sức sống 4 - 5 năm gọi là cỏ có sức sống vừa như: Pangola, cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Brizantha, cỏ Paspalum. Loại sống 6 - 10 năm gọi là cỏ có sức sống lâu như: cỏ Tước Mạch không râu.
Căn cứ vào sức sống của từng loại cỏ hoà thảo mà người ta dự tính thời gian trồng lại để đảm bảo năng suất. Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo Cỏ hoà thảo có giá trị kinh tế lớn vì nó phân bố rộng chiếm tỷ lệ cao, cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, khi chế biến và dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao. Sản lượng hoà thảo tự nhiên vào khoảng 10 - 20 tấn/ha/năm. Cỏ hoà thảo trồng, thâm canh ở mức độ trung bình, có sản lượng vào khoảng 30 - 40 tấn/ha/năm (đối với cỏ thân bò), 50 - 60 tấn/ha/năm (đối với cỏ thân đứng).
n 8 Nếu đầu tư thâm canh cao và đầy đủ nước tưới trong mùa khô thì sản lượng có thể tăng 150 - 200%. Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cỏ 1. Ánh sáng Ánh sáng là nhân tố rất cần thiết tới điều kiện sinh trưởng của cây, vì nó rất cần thiết cho sự quang hợp của cây. Ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục.
Có ánh sáng cây mới phát triển thân, cành, lá, rễ và ra hoa kết quả một cách bình thường. Ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng bởi hai hình thức khác nhau là cường độ sáng và quang chu kỳ. Thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cỏ. Căn cứ vào phản ứng của cỏ đối với các yếu tố này người ta chia ra loại cỏ ưa thời gian chiếu sáng dài, loại cỏ ưa thời gian chiếu sáng trung bình và loại cỏ ưa thời gian chiếu sáng ngắn.
Đối với cường độ chiếu sáng người ta cũng chia cỏ thành các loại như vậy. Ở điều kiện chiếu sáng với cường độ từ 500 - 1000 lux thì cường độ quang hợp tăng nhanh cùng cường độ sáng.