Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Gà Sao (Guinea Fowl) hay còn được gọi là gà Nhật, gà Phi, chim Trĩ châu Phi (Phùng Đức Tiến và ctv., 2009), tên khoa học là Numida meleagris, có nguồn gốc từ châu Phi (Moreki and Radikara, 2013; Adjetey et al., 2014) với chất lượng thịt và trứng rất thơm ngon (Baeza et al., 2001; Chesman, 2015), đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của người dân. Thịt gà Sao có chất lượng cao, hàm lượng protein cao và ít chất béo, do đó, nó được đánh giá cao hơn so với thịt của các giống gà khác nuôi theo phương thức thâm canh (Ayeni, 1980; Moreki and Seabo, 2012). Gà Sao còn có khả năng miễn dịch và ít bị nhiễm các bệnh phổ biến trên gia cầm (Mandal et al., 1999; Moreki, 2009; Sayila, 2009); chi phí sản xuất tương đối thấp (Microlivestock, 1991). Vì thế, phát triển chăn nuôi gà Sao sẽ góp phần làm cho ngành chăn nuôi phát triển bền vững, đa dạng và phong phú (Nahashon et al., 2006a; Moreki and Radikara, 2013).
Gà Sao có mặt tại nước ta từ thế kỷ XIX do người Pháp mang vào nuôi để làm cảnh vì chúng có ngoại hình đẹp, tuy nhiên số lượng rất ít ỏi và phân bố tản mạn. Do nuôi làm cảnh là chính, nên rất ít người nuôi với mục đích lấy trứng, lấy thịt, vì vậy giá trị kinh tế của gà Sao chưa được nhìn nhận đúng mức (Phùng Đức Tiến và ctv. Năm 2009, theo chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Cần Thơ và Viện Nghiên cứu tiểu gia súc Godollo (Hungari), Trường Đại học Cần Thơ đã tiếp nhận 500 con giống gà Sao làm nền tảng phục vụ nghiên cứu và chuyển giao con giống, kỹ thuật cho các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, nuôi gà Sao lấy thịt đang phát triển mạnh ở các tỉnh thuộc khu vực này như Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Hậu Giang,.
Nuôi gà Sao hiện đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi, góp phần thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo, giúp đa dạng hoá vật nuôi ở nước ta (Bích Châu, 2014; Phạm Văn Phú, 2015). Do đối tượng gà Sao mới được quan tâm trong những năm gần đây, vì thế những nghiên cứu trên gà Sao ở nước ta còn khá mới mẻ, chưa nhiều, chưa có tính hệ thống. Hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào khả năng thích nghi của gà Sao trong điều kiện khí hậu ở nước ta trên các chỉ tiêu về sinh trưởng, sinh sản. Trong khi đó, các nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hóa trên các loại thức ăn nguyên liệu đặc biệt là thức ăn cung cấp protein thì còn rất hạn chế.
1 Đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích, bột cá biển và bột cá tra là 4 thức ăn nguyên liệu cung cấp protein cho vật nuôi, được sử dụng rất phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các thực liệu này đại diện cho 2 nguồn thức ăn cung cấp protein cho vật nuôi có nguồn gốc từ thực vật và động vật. Đây cũng là các thực liệu có thành phần dưỡng chất và giá thành khác nhau nhưng chưa được tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ tiêu hoá các dưỡng chất và acid amin nhằm xác định nguồn cung cấp protein hiệu quả, làm cơ sở cho việc lựa chọn thức ăn nguyên liệu và xây dựng khẩu phần, phục vụ tốt hơn thực tiễn chăn nuôi gà Sao lấy thịt. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về mức năng lượng trao đổi và protein thô tối ưu trong khẩu phần để nuôi dưỡng gà Sao giai đoạn tăng trưởng còn nhiều khác biệt giữa các nhà nghiên cứu (Adeyemo et al., 2006; Nahashon et al., 2006a; Leeson and Summers, 2008; Adjetey et al.
Mặt khác, xu hướng hiện nay theo đề xuất của các nhà nghiên cứu là nên giảm lượng protein thô trong khẩu phần kết hợp với việc bổ sung acid amin tổng hợp (Carter and Kim, 2013) nhằm làm giảm tác động của chất thải chăn nuôi gia cầm đến môi trường là vấn đề cấp thiết. Mức protein thô có thể giảm trong khẩu phần của gia cầm là khoảng 3-4% và có bổ sung acid amin (Payne, 2007; Hernandez et al. Nhiều nghiên cứu trên gia cầm đã chỉ ra rằng hàm lượng protein thô có thể giảm kết hợp với cung cấp bổ sung acid amin thiết yếu dạng tổng hợp vẫn đảm bảo năng suất chăn nuôi tương tự như cung cấp protein mức độ cao trong khẩu phần (Applegate et al., 2008; Alagawany et al., 2014; Beski et al. Lysine và methionine là hai trong số các acid amin thiết yếu và cũng là hai trong số các acid amin giới hạn nhất trong khẩu phần của gia cầm (NRC, 1994).
Jiang et al. (2005) và Blair (2008) cho rằng việc bổ sung lysine và methionine vào khẩu phần có mức protein thô thấp sẽ giúp khả năng tăng trưởng của gia cầm đạt tối ưu trong giai đoạn tăng trưởng, tuy nhiên vấn đề này lại chưa được tiến hành nghiên cứu trong và ngoài nước trên đối tượng gà Sao. Song song đó, việc nghiên cứu, đánh giá các phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hoá trên gia cầm về các loại thức ăn nguyên liệu hay khẩu phần ăn, nhằm tìm ra phương pháp phù hợp áp dụng vào việc đánh giá chất lượng thức ăn là hết sức quan trọng, giúp người chăn nuôi chọn lựa thức ăn phù hợp với thực tiễn chăn nuôi. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu về phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hoá được tiến hành trên gà, vịt, ngỗng, bồ câu, chim cút, ., (Parson, 1985; Green and Kiener, 1989; Kadim et al., 2002; Wang et al., 2008; Bryden et al., 2009) nhưng đối với gà Sao thì lại thiếu thông tin về vấn đề này.
2 Chính vì thế, việc nghiên cứu để xác định loại thức ăn nguyên liệu cung cấp protein hiệu quả; mức năng lượng trao đổi và protein thô tối ưu; mức lysine, methionine tối ưu trong khẩu phần có mức protein thô thấp và phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hoá thích hợp trên gà Sao nuôi lấy thịt là hết sức cần thiết, nhằm cung cấp bộ dữ liệu cho công tác phối hợp khẩu phần và phương pháp nghiên cứu tỷ lệ tiêu hoá ở gà Sao nuôi lấy thịt tại Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung. Với lý do đó, đề tài nghiên cứu “Xác định mức năng lượng trao đổi, protein thô, lysine và methionine trong khẩu phần của gà Sao (Numida meleagris) nuôi lấy thịt ở Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện.2 Mục tiêu của luận án Đánh giá khả năng tiêu hoá dưỡng chất và acid amin của khẩu phần có sử dụng 4 nguồn thực liệu cung cấp protein khác nhau (đậu nành hạt, khô dầu đậu nành ly trích, bột cá biển, bột cá tra) nhằm tìm ra nguồn thực liệu cung cấp protein hiệu quả áp dụng vào chăn nuôi gà Sao giai đoạn tăng trưởng. Xác định mức năng lượng trao đổi, protein thô tối ưu trong khẩu phần nuôi gà Sao nuôi lấy thịt. Xác định được mức lysine và methionine tối ưu trong khẩu phần có mức protein thấp để nuôi gà Sao trong giai đoạn tăng trưởng.
Xác định phương pháp đánh giá tỷ lệ tiêu hóa các dưỡng chất và acid amin của một loại thực liệu hay khẩu phần ở gà Sao thông qua 3 phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa (phương pháp tiêu hóa toàn phần, phương pháp tiêu hóa cắt bỏ manh tràng và phương pháp tiêu hóa hồi tràng).3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 1.1 Ý nghĩa khoa học Cung cấp bộ dữ liệu về tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của 4 loại thức ăn nguyên liệu cung cấp protein và phương pháp xác định tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất trên gà Sao giai đoạn tăng trưởng. Luận án này còn cung cấp mức protein thô, năng lượng trao đổi, lysine và methionine tối ưu trong khẩu phần nuôi gà Sao tăng trưởng ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung.2 Ý nghĩa thực tiễn Cung cấp thông tin về các nguồn cung cấp protein hiệu quả cho nuôi dưỡng gà Sao. Mức năng lượng trao đổi và protein thô tối ưu; mức lysine và methione tối ưu trong khẩu phần có mức protein thô thấp để nuôi dưỡng gà Sao giai đoạn tăng trưởng, giúp cho người chăn nuôi xây dựng và phối hợp khẩu phần cân đối 3 dưỡng chất, vừa đáp ứng quá trình sinh trưởng của con vật, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.4 Những đóng góp mới của luận án So sánh được các thực liệu cung cấp protein hiệu quả và tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất của chúng trong khẩu phần nuôi gà Sao giai đoạn tăng trưởng. Xác định được mức protein thô, năng lượng trao đổi trong khẩu phần nuôi gà Sao nuôi lấy thịt.
Xác định được mức lysine và methionine tối ưu trong khẩu phần có mức protein thấp để nuôi gà Sao trong giai đoạn tăng trưởng. Xác định và so sánh được hiệu quả của phương pháp đánh giá tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và acid amin bằng phương pháp tiêu hóa toàn phần, phương pháp tiêu hóa cắt bỏ manh tràng và phương pháp tiêu hóa hồi tràng trên gà Sao giai đoạn tăng trưởng. 4 Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về gà Sao và các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng ở gà Sao 2.1 Giới thiệu về gà Sao Gà Sao có tên khoa học là Numida meleagris, bắt nguồn từ gà Sao rừng (Microlivestock, 1991; Smuskiewicz, 2010; A-Z Animals, 2016), được phân loại như sau: Giới (regnum): giới động vật (Animalia) Ngành (phylum): ngành dây sống (Chordata) Lớp (class): lớp chim (Aves) Bộ (order): bộ gà (Galliformes) Họ (family): gà Phi (Numididae) Chi (genus): Numida Loài (spieces): Numida meleagris (Linnaeus et al., 1758; Smuskiewicz, 2010; A-Z Animals, 2016) Tên Guinea xuất phát từ bờ biển Guinea ở Châu Phi (Ikani and Dafwang, 2004; Moreki and Radikara, 2013). Gà Sao phân bố chủ yếu ở Châu Phi và phổ biến ở các trang trại nhỏ (Moreki and Seabo, 2012; Nobo et al.
Loài gia cầm này còn được tìm thấy ở Châu Á, Châu Mỹ La Tinh như là một loài bán thuần hoá (Fajemilehin, 2010; Yildirim, 2012), trong khi đó tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc lại là nơi sản xuất với quy mô lớn (Tjetjoo et al. Hiện nay, gà Sao được nuôi ở nhiều nơi trên thế giới để lấy thịt và trứng (Microlivestock, 1991). Ở một số nước Châu Phi, gà Sao được coi như vật nuôi có ý nghĩa quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo cho người nông dân (Moreki and Seabo, 2012). Gà Sao có bộ lông màu xám đen, điểm những đốm tròn nhỏ màu trắng.
Đầu không có lông và mào nhưng có mũ sừng, dưới cổ có yếm thịt màu đỏ. Lông đuôi ngắn và thường dốc xuống.