Tổng quan nghiên cứu

Vật liệu bán dẫn cấu trúc perovskite vô cơ đang trở thành tâm điểm trong công nghệ quang điện tử hiện đại nhờ hiệu suất phát quang cao và khả năng điều chỉnh dải phổ rộng từ 1,2 eV đến 3,0 eV. Mặc dù các hạt nano CsPbBr3 phát xạ ánh sáng xanh lục và CsPbI3 phát xạ ánh sáng đỏ đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, việc chế tạo chấm lượng tử phát quang màu xanh lam tinh khiết dưới 480 nm vẫn gặp rào cản kỹ thuật rất lớn. Các phương pháp chế tạo chấm lượng tử xanh lam truyền thống dựa trên pha tạp anion clorua (CsPbBrxCl1-x) thường đối mặt với nhiệt độ kết tinh cao, độ hòa tan của PbCl2 trong dung môi hữu cơ rất kém và hiện tượng phân tách pha nghiêm trọng dưới bức xạ tia cực tím. Việc thu nhỏ kích thước hạt xuống dưới 4 nm để tận dụng hiệu ứng giam giữ lượng tử lại làm gia tăng mật độ bẫy khuyết tật bề mặt, khiến độ bền quang học suy giảm nhanh chóng sau vài ngày.

Nhằm giải quyết triệt để bài toán này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Vật lý chất rắn của tác giả Nguyễn Cao Ngọc Hồng (thực hiện tại Trường Đại học Quy Nhơn phối hợp với Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ, Viện Vật lý kỹ thuật thuộc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, dưới sự tài trợ của Quỹ NAFOSTED qua đề tài mã số 103) đã tập trung nghiên cứu quy trình pha tạp cation Co2+ vào mạng nền nano tinh thể CsPbBr3. Mục tiêu cốt lõi của công trình là thiết lập quy trình công nghệ đồng kết tủa gia nhiệt một bước để tổng hợp vật liệu nano CsPbBr3@CoBr2 phát ánh sáng xanh lam ổn định tại bước sóng 475 nm với độ tinh khiết cao.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn khi tạo ra vật liệu phát quang xanh lam đạt hiệu suất lượng tử huỳnh quang tới 85%, thời gian sống của hạt tải quang điện kéo dài tới 80 µs và năng lượng liên kết exciton đạt 360 meV. Khi ứng dụng vào chế tạo đi-ốt phát quang ánh sáng trắng (WLED), hệ vật liệu giúp nâng chỉ số hoàn màu CRI từ mức 65 của đèn thương mại lên 94 ở nhiệt độ màu tương quan 5656 K, đồng thời mở ra triển vọng chế tạo màn hình hiển thị trong suốt với độ truyền qua quang học trên 90%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của ba khung lý thuyết quang - vật lý chất rắn hiện đại:

Thứ nhất là lý thuyết cấu trúc tinh thể Perovskite ABX3 và pha cấu trúc thấp chiều Ruddlesden-Popper (An+1BnX3n+1). Trong cấu trúc lập phương chuẩn của CsPbBr3, cation chì Pb2+ phối trí với 6 anion brom Br- tạo thành các bát diện [PbBr6]4- chia sẻ đỉnh, trong khi cation Cs+ nằm xen kẽ ở các hốc mạng. Khi đưa ion Co2+ vào tiền chất, sự tương tác dị thể và chênh lệch bán kính ion dẫn đến sự hình thành pha giả thấp chiều (quasi-2D), giúp mở rộng bề rộng vùng cấm và ngăn chặn hiện tượng phân tách pha.

Thứ hai là thuyết giam giữ lượng tử (Quantum Confinement Effect). Khi kích thước không gian của tinh thể nano nhỏ hơn bán kính Bohr exciton nguyên tử (đối với CsPbBr3 là khoảng 7 nm), các mức năng lượng điện tử bị lượng tử hóa rời rạc, làm dịch chuyển bờ hấp thụ và đỉnh phát xạ về phía bước sóng ngắn (blue-shift) mà không cần thay đổi thành phần anion halogen.

Thứ ba là lý thuyết động học tái hợp exciton và thụ động hóa bẫy bề mặt. Năng lượng liên kết exciton (Eb) quyết định xác suất tái hợp bức xạ ở nhiệt độ phòng. Việc kết hợp ion kim loại chuyển tiếp Co2+ đóng vai trò triệt tiêu các sai hỏng mạng cục bộ, loại bỏ các mức năng lượng bẫy sâu trong vùng cấm, từ đó giảm thiểu tối đa các quá trình tái hợp không phát xạ (non-radiative losses).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm khoa học với nguồn hóa chất có độ tinh khiết cao gồm Cesium carbonate (Cs2CO3 99,9%), Lead (II) bromide (PbBr2 99,9%), Cobalt (II) bromide (CoBr2), Axit Oleic (OA), Oleylamine (OAm), Methyl methacrylate (MMA) và dung môi Iso-octane. Cỡ mẫu thực nghiệm được thiết lập thông qua hệ thống các mẻ tổng hợp biến thiên tỷ lệ mol tiền chất CoBr2/PbBr2 từ 1:10 đến 1:1, kết hợp khảo sát nhiệt độ phản ứng từ 40°C đến 100°C và thời gian phản ứng từ 4 phút đến 24 phút.

Quy trình chế tạo mẫu áp dụng phương pháp hóa gia nhiệt một bước (one-pot synthesis): Tiền chất Cs-oleate được tạo thành bằng cách hòa tan 0,6 mmol Cs2CO3 trong 30 mL iso-octane và 1,5 mL OA ở 100°C. Hỗn hợp CoBr2 và PbBr2 theo các tỷ lệ mol xác định được hòa tan cùng 1,5 mL OA và 3 mL OAm trong 30 mL iso-octane ở 100°C trong 20 phút. Sau phản ứng, dung dịch được làm lạnh đột ngột và ly tâm ở tốc độ 6000 vòng/phút trong 5 phút để loại bỏ các hạt kết tụ lớn, thu lấy phần dung dịch chứa nano tinh thể phân tán đều trong toluene ở nồng độ cố định 10 mg/mL.

Hệ thống thiết bị phân tích hiện đại được lựa chọn nhằm đánh giá toàn diện đặc tính vật liệu:

  • Phổ nhiễu xạ tia X (XRD) đo trên máy PANalytical X’pert Pro MPD sử dụng bức xạ Cu-Ka bước sóng 1,54065 Å, tốc độ quét 0,03°/2s trong dải góc 2theta từ 10° đến 80° để định danh pha tinh thể.
  • Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) khảo sát hình thái và kích thước hạt nano.
  • Phổ huỳnh quang (PL) và phổ kích thích huỳnh quang (PLE) đo trên hệ quang phổ Horiba dải bước sóng 180 nm đến 1550 nm.
  • Phổ phản xạ khuếch tán UV-Vis đo trên máy JASCO V750 gắn quả cầu tích phân 60 nm ISV-922, áp dụng mô hình Kubelka-Munk để xác định bề rộng vùng cấm quang học.
  • Thời gian sống huỳnh quang (TRPL) và hiệu suất lượng tử (PLQY) đo bằng hệ tích phân cầu Gamma Scientific Radoma GS-1290 kết nối bộ xử lý tín hiệu Light Touch LED.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã ghi nhận bốn phát hiện khoa học mang tính đột phá về cấu trúc vi mô và tính chất quang điện:

Thứ nhất, việc kiểm soát nhiệt độ và tỷ lệ pha tạp Co2+ quyết định trực tiếp đến hình thái học của nano tinh thể. Ở mẫu CsPbBr3 nguyên bản tổng hợp ở 100°C, các hạt nano có dạng hình khối lập phương đồng đều với kích thước khoảng 20 nm, phát xạ ánh sáng xanh lục tại bước sóng 515 nm. Khi đưa tiền chất CoBr2 vào với tỷ lệ mol CoBr2/PbBr2 đạt 1:1, hình thái vật liệu chuyển đổi hoàn toàn từ dạng khối lập phương sang cấu trúc dây nano phân đoạn (segmented nanowires). Dây nano có chiều dài vài micromet, được tạo thành từ các phiến nano siêu mỏng có độ dày chỉ từ 2,3 nm đến 4,0 nm và bề rộng từ 7 nm đến 12 nm. Độ dày 2,3 - 4,0 nm này nhỏ hơn đáng kể so với đường kính Bohr (khoảng 7 nm), tạo nên hiệu ứng giam giữ lượng tử 1D/2D vô cùng mạnh mẽ.

Thứ hai, đỉnh phát xạ huỳnh quang chuyển dịch mạnh mẽ về vùng ánh sáng xanh lam tinh khiết. Phổ PL của mẫu CsPbBr3@CoBr2 ghi nhận bước sóng phát xạ dịch chuyển tuần tự từ 515 nm về 495 nm khi tỷ lệ CoBr2/PbBr2 là 1:10, và đạt đỉnh đơn sắc sắc nét tại 475 nm khi tỷ lệ mol đạt 1:1. Phổ PLE cho thấy dải kích thích rộng từ 300 nm đến 440 nm với hai cực đại tại 380 nm và 430 nm. Hiệu suất lượng tử huỳnh quang (PLQY) của hệ dây nano CsPbBr3@CoBr2 đạt tới 85%, tương đương với các nano tinh thể phát quang xanh lục tốt nhất hiện nay và vượt trội hơn 40% so với các cấu trúc chấm lượng tử xanh lam không pha tạp.

Thứ ba, động học hạt tải và độ bền nhiệt được cải thiện ngoạn mục. Phân tích phổ huỳnh quang phân giải thời gian (TRPL) theo hàm phân rã lũy thừa bậc hai cho thấy thời gian sống huỳnh quang trung bình của hạt tải trong CsPbBr3@CoBr2 đạt mức 80 µs. Con số này cao hơn gấp 1212 lần so với thời gian sống hạt tải chỉ 66 ns ở mẫu CsPbBr3 tinh khiết. Đồng thời, năng lượng liên kết exciton (Eb) tính toán từ phương trình Arrhenius đạt 360 ± 6 meV, cao hơn hẳn so với vật liệu MAPbBr3 truyền thống (328 meV), giúp vật liệu duy trì cường độ phát quang vượt trội ngay cả khi gia nhiệt trên 80°C.

Thứ tư, hiệu quả ứng dụng thực tế trong công nghệ chiếu sáng và hiển thị được chứng minh rõ nét. Khi phủ lớp CsPbBr3@CoBr2 lên chip LED xanh lam 430 nm kết hợp với bột huỳnh quang thương mại YAG:Ce và K2SiF6:Mn4+, thiết bị WLED chế tạo đạt chỉ số hoàn màu CRI lên đến 94 tại nhiệt độ màu CCT 5656 K (so với chip LED thương mại blue LED + YAG:Ce chỉ đạt CRI 65 tại CCT 5791 K). Ngoài ra, màng composite CsPbBr3@CoBr2/PMMA với độ dày từ 10 µm đến 40 µm thể hiện độ truyền qua quang học đạt trên 90% ở dải bước sóng lớn hơn 475 nm, cho phép hiển thị hình ảnh phát quang xanh lam rõ nét dưới ánh sáng ban ngày khi chiếu chùm sáng kích thích 405 nm từ máy chiếu kỹ thuật số DLP.

Thảo luận kết quả

Cơ chế tạo mầm và chuyển đổi cấu trúc tinh thể được làm sáng tỏ dựa trên sự chênh lệch bán kính ion giữa Co2+ và Pb2+. Bán kính ion của Co2+ là 126 pm, nhỏ hơn đáng kể so với bán kính của Pb2+ là 146 pm. Trong giai đoạn đầu của phản ứng, Co2+ có xu hướng thâm nhập vào mạng nền để thay thế vị trí của Pb2+. Tuy nhiên, do lực căng mạng tinh thể gia tăng khi nồng độ pha tạp tăng cao, các ion Co2+ bị đùn đẩy ra các mặt phẳng biên hạt, hình thành nên các lớp chuyển tiếp tuần hoàn CoBr2/CsPbBr3/CoBr2. Quá trình này đóng vai trò như một khuôn định hướng hóa học, kìm hãm sự phát triển không gian ba chiều của tinh thể và thúc đẩy sự hình thành cấu trúc dây nano giả thấp chiều.

Các dữ liệu XRD khẳng định rằng dù có sự thay đổi lớn về hình thái học, cấu trúc pha lập phương (cubic) đặc trưng của CsPbBr3 vẫn được bảo toàn nguyên vẹn mà không xuất hiện các đỉnh nhiễu xạ của tạp chất Co kim loại hay các oxide phụ. Trên các biểu đồ phân tích nhiệt Arrhenius, đường nội suy thực nghiệm thể hiện sự suy giảm cường độ bức xạ phi tuyến tính rất chậm theo nhiệt độ nghịch đảo, khẳng định các tâm bẫy sâu đã bị triệt tiêu nhờ sự thụ động hóa biên hạt của CoBr2.

So sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm, cấu trúc dây nano CsPbBr3@CoBr2 trong luận văn thể hiện nhiều ưu thế vượt bậc. Nghiên cứu của Jiang cùng cộng sự từng chế tạo perovskite giả thấp chiều PEA2(RbxCs1-x)n-1PbnBr3n+1 phát xạ xanh lam (454 - 492 nm) đạt PLQY 82% nhưng quy trình tổng hợp đòi hỏi kiểm soát phức tạp nhiều cation hữu cơ. Nghiên cứu của Jia và cộng sự tạo màng (TFA)2MAn-1PbnBr3n+1 duy trì độ bền 2688 giờ nhưng chứa gốc cation methylammonium kém bền nhiệt. Giải pháp pha tạp Co2+ trong luận văn sử dụng hoàn toàn mạng nền vô cơ, vừa tối giản hóa quy trình tổng hợp trong 20 phút ở 100°C, vừa đạt hiệu suất lượng tử 85% và thời gian sống hạt tải 80 µs, mở ra hướng đi tối ưu cho công nghệ quang điện tử chấm lượng tử.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đạt được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm chuyển giao và ứng dụng vật liệu vào thực tiễn sản xuất:

Thứ nhất, chuẩn hóa và tự động hóa quy trình tổng hợp dây nano CsPbBr3@CoBr2 ở quy mô pilot.

  • Hành động: Thiết lập hệ thống phản ứng dòng liên tục (microfluidic continuous-flow reactor) nhằm kiểm soát chính xác gradient nhiệt độ và tốc độ cấp tiền chất CoBr2/PbBr2.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng độ đồng đều kích thước hạt nano lên trên 95%, nâng sản lượng tổng hợp lên 500 gram/mẻ với độ sai lệch bước sóng phát quang dưới 1,5 nm.
  • Thời gian thực hiện: 6 - 12 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Nhóm nghiên cứu Vật lý chất rắn phối hợp cùng các phòng thí nghiệm trọng điểm về công nghệ vật liệu nano.

Thứ hai, phát triển kỹ thuật đóng gói nano bảo vệ đa lớp chống ẩm và oxy hóa.

  • Hành động: Áp dụng kỹ thuật bọc phủ màng vô cơ siêu mỏng Al2O3 hoặc SiO2 thông qua phương pháp lắng đọng lớp nguyên tử (Atomic Layer Deposition - ALD) kết hợp vi bọc trong nền polymer kỵ nước PMMA/PDMS.
  • Chỉ số mục tiêu: Đảm bảo độ duy trì cường độ phát quang đạt trên 90% sau 3000 giờ hoạt động liên tục trong môi trường độ ẩm 85% và nhiệt độ 60°C.
  • Thời gian thực hiện: 12 - 18 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Các kỹ sư vật liệu tại các viện nghiên cứu và trung tâm R&D linh kiện bán dẫn.

Thứ ba, hoàn thiện công nghệ chế tạo tấm nền hiển thị trong suốt khổ lớn.

  • Hành động: Nghiên cứu công nghệ phân tán siêu âm tần số cao kết hợp gạt phủ màng quang học composite CsPbBr3@CoBr2/PMMA trên các đế kính cường lực và nhựa quang học dẻo PET.
  • Chỉ số mục tiêu: Tăng kích thước tấm hiển thị từ mức 30 cm x 30 cm lên 100 cm x 100 cm, duy trì độ truyền qua quang học khả kiến trên 92% và độ lệch màu dưới 1%.
  • Thời gian thực hiện: 18 - 24 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp sản xuất màn hình hiển thị thông minh và thiết bị hỗ trợ lái xe (HUD).

Thứ tư, tối ưu hóa phối đồ quang học trong sản xuất đèn LED chiếu sáng y tế và studio.

  • Hành động: Tinh chỉnh tỷ lệ phối trộn giữa ba hệ phosphor (CsPbBr3@CoBr2 xanh lam 475 nm, YAG:Ce xanh lục/vàng, K2SiF6:Mn4+ đỏ 630 nm) trên chip LED tử ngoại gần 405 - 430 nm.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng chỉ số hoàn màu toàn phần CRI vượt mức 96, hệ số R9 (độ hiển thị màu đỏ tươi) đạt trên 90 và hiệu suất phát quang đạt trên 110 lm/W.
  • Thời gian thực hiện: 6 - 9 tháng.
  • Chủ thể thực hiện: Các nhà máy chế tạo linh kiện chiếu sáng LED cao cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và giá trị đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Vật lý chất rắn, Khoa học vật liệu và Vật lý kỹ thuật. Tài liệu cung cấp cơ sở thực nghiệm chi tiết về kỹ thuật pha tạp cation kim loại chuyển tiếp vào mạng tinh thể halide perovskite, mô hình phân tích năng lượng exciton Arrhenius và phương pháp tính toán động học hạt tải TRPL.

Thứ tư, các kỹ sư R&D và chuyên gia công nghệ tại các doanh nghiệp sản xuất linh kiện LED chiếu sáng rắn (Solid-State Lighting). Luận văn mang lại giải pháp trực tiếp để nâng cao chỉ số hoàn màu CRI từ 65 lên 94, hỗ trợ phát triển các dòng đèn LED cao cấp phục vụ y tế, phòng trưng bày nghệ thuật và chiếu sáng nông nghiệp công nghệ cao.

Thứ ba, các nhóm nghiên cứu và phát triển sản phẩm màn hình hiển thị (Display Engineers). Các thông số về màng composite CsPbBr3@CoBr2/PMMA truyền qua 90% kết hợp nguồn phát DLP 405 nm là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật quan trọng để thiết kế màn hình hiển thị trong suốt trên kính chắn gió ô tô (HUD) và kính kiến trúc thông minh.

Thứ tư, giảng viên đại học và sinh viên các ngành công nghệ nano, hóa lý và quang tử học. Luận văn là một case study mẫu mực về quy trình tổng hợp hóa học xanh một bước ở nhiệt độ thấp (100°C), kết hợp chuỗi phép đo phân tích cấu trúc vật liệu chuẩn mực từ XRD, TEM, PLE/PL đến quả cầu tích phân quang điện.

Câu hỏi thường gặp

Việc pha tạp cation Co2+ mang lại ưu thế gì vượt trội so với pha tạp anion Cl- truyền thống?

Pha tạp Cl- tạo tinh thể CsPbBrxCl1-x đòi hỏi nhiệt độ cao và dùng dung môi độc hại để hòa tan PbCl2, nhưng dễ bị phân tách pha sau vài giờ chiếu xạ UV. Pha tạp Co2+ trong luận văn sử dụng phản ứng một bước ở 100°C, giữ nguyên pha Br- đồng nhất, tạo cấu trúc dây nano phát quang 475 nm với PLQY đạt 85% và bền vững quang học vượt trội.

Tại sao thời gian sống huỳnh quang của CsPbBr3@CoBr2 lại tăng vọt lên 80 µs so với 66 ns ở mẫu chuẩn?

Thời gian sống phát quang kéo dài từ 66 ns lên 80 µs (tăng hơn 1200 lần) là bằng chứng cho thấy sự giảm thiểu triệt để các bẫy sai hỏng biên hạt. Sự xuất hiện của các lớp CoBr2 đóng vai trò thụ động hóa bề mặt mạng tinh thể, ngăn cản các kênh tái hợp không phát xạ và giam giữ exciton hiệu quả trong cấu trúc giả thấp chiều.

Cấu trúc dây nano giả thấp chiều được hình thành qua cơ chế vật lý nào?

Do ion Co2+ có bán kính 126 pm nhỏ hơn Pb2+ (146 pm), khi nồng độ tiền chất CoBr2/PbBr2 đạt tỷ lệ mol 1:1, ion Co2+ bị đè nén và đùn đẩy ra ngoài biên mạng, tạo ra các lớp chắn CoBr2 xen kẽ. Hiện tượng này bẻ gãy cấu trúc khối lập phương 3D thành các dây nano gồm các phiến mỏng 2,3 - 4 nm có hiệu ứng giam giữ lượng tử mạnh.

Vật liệu CsPbBr3@CoBr2 giúp nâng cao chất lượng nguồn sáng WLED như thế nào?

Đèn LED trắng thương mại (blue LED + YAG:Ce) thường bị khuyết dải phổ xanh lam - xanh lục (cyan gap), dẫn đến chỉ số hoàn màu CRI chỉ đạt khoảng 65. Khi bổ sung CsPbBr3@CoBr2 (phát xạ 475 nm) và phosphor đỏ KSFM, dải phổ khả kiến được lấp đầy đồng đều, giúp chỉ số CRI tăng vọt lên 94 ở nhiệt độ màu 5656 K.

Tấm composite CsPbBr3@CoBr2/PMMA có cơ chế hoạt động ra sao trên màn hình trong suốt?

Màng composite PMMA chứa hạt nano CsPbBr3@CoBr2 có độ trong suốt quang học trên 90% đối với ánh sáng nhìn thấy (> 475 nm). Khi được kích thích bởi chùm tia tử ngoại 405 nm từ máy chiếu kỹ thuật số DLP, màng sẽ hấp thụ photon năng lượng cao và tái phát xạ ánh sáng xanh lam 475 nm rực rỡ, hiển thị hình ảnh rõ nét mà không cản trở tầm nhìn phía sau.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công quy trình công nghệ gia nhiệt một bước đơn giản ở 100°C trong 20 phút để tổng hợp nano tinh thể CsPbBr3 pha tạp Co2+ có độ lặp lại cao.
  • Xác lập cơ chế chuyển đổi hình thái từ khối lập phương 20 nm sang dây nano giả thấp chiều có độ dày siêu mỏng 2,3 - 4,0 nm nhờ hiệu ứng tự lắp ghép điều khiển bởi ion Co2+.
  • Tạo ra vật liệu phát quang xanh lam đơn sắc chuẩn 475 nm với hiệu suất lượng tử PLQY đạt 85%, năng lượng liên kết exciton 360 meV và thời gian sống hạt tải kỷ lục 80 µs.
  • Thử nghiệm thành công linh kiện WLED chất lượng cao với chỉ số hoàn màu CRI đạt 94 và chế tạo màng composite phát quang trong suốt đạt độ truyền qua trên 90%.
  • Đóng góp luận văn là nền tảng thực nghiệm then chốt cho lộ trình 6 - 12 tháng tiếp theo nhằm tối ưu hóa đóng gói thương mại hóa vật liệu bán dẫn phát quang tại Việt Nam.

Bạn đọc và các nhóm nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Cao Ngọc Hồng tại Thư viện Trường Đại học Quy Nhơn và Viện Tiên tiến Khoa học và Công nghệ (AIST) - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội để ứng dụng và phát triển các đề tài chuyên sâu về vật liệu bán dẫn quang điện tử thế hệ mới.