CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO (2015), cây lúa chiếm một vị trí quan trọng trên Thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á. Hiện có 114 nước trên thế giới trồng lúa, nhưng chỉ 18 nước có diện tích sản xuất lớn hơn 1.000 ha và đều tập trung ở Châu Á, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines,.
Đồng thời với việc gia tăng về diện tích thì năng suất lúa cũng không ngừng tăng nhanh nhờ việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chọn giống và thâm canh, năng suất bình quân trên thế giới đã tăng thêm khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn thế giới từ giai đoạn 2006 đến 2016 Diện tích Sản lượng Năm Năng suất (tạ/ha) (1.000 ha) (triệu tấn) 2006 155,581 41,21 640,92 2007 155,040 42,38 656,78 2008 159,992 43,03 688,04 2009 158,130 43,44 686,93 2010 161,188 43,53 701,65 2011 162,799 44,40 721,45 2012 162,317 45,30 733,23 2013 164,721 44,98 738,06 2014 160,660 45,39 740,96 2015 162,200 45,59 739,70 2016 163,100 46,00 748,00 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAOSTAT, 2017) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Diện tích trồng lúa ở châu Á dẫn đầu về thế giới, nhưng năng suất lúa vẫn chưa cao so với các khu vực khác. Từ năm 1990 đến nay, năng suất lúa thế giới vẫn liên tục tăng và đạt 4,6 tấn/ha năm 2016. Mặc dù năng suất lúa ở các nước Châu Á còn thấp, nhưng do có diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là khu vực đóng góp lúa gạo chủ yếu và quan trọng trên thế giới (trên 90%).
Dựa trên số liệu từ bảng 1.1 trên ta thấy rằng: Từ năm 2006 đến nay, diện tích sản xuất lúa tăng theo mỗi năm, đây là hệ quả của cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu buộc các nhà nước phải chú tâm đảm bảo an ninh lương thực bằng cách trồng lúa. Về năng suất, nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như công tác chọn tạo giống mới, năng suất lúa từ năm 2006 đến năm 2016 liên tục tăng từ 41,21 tạ/ha lên 46,00 tạ/ha. Về sản lượng, nhìn chung trong 10 năm từ năm 2006 đến năm 2016 thì sản lượng lúa vẫn tăng đều mỗi năm , năm 2016 tăng 8,3 triệu tấn so với năm 2015 và tăng 107,08 triệu tấn so với năm 2006 Bảng 1. Tình hình sản xuất lúa của một số quốc gia trên thế giới năm 2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (nghìn ha) (kg/ha) (nghìn tấn) Thế giới 160,660 45,39 740,96 Trung Quốc 30,871 67,455 208,239 Ấn Độ 43,400 36,221 157,200 Inđônêxia 13,797 51,348 70,846 Bănglađet 1,182 44,189 52,231 Thái Lan 10,834 30,108 32,620 Việt Nam 7,816 57,538 44,974 Hàn Quốc 846 75,809 6,420 Brazin 2,340 52,013 12,175 Pa-kits-tan 2,891 24,230 7,005 Ai cập 629 95,299 6,000 (Nguồn: FAOSTAT, 2016) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Thông qua bảng 1.2 ta thấy Ấn Độ có diện tích trồng lúa lớn nhất nhưng sản lượng không đứng đầu, điều này chứng tỏ việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của Ấn Độ còn nhiều hạn chế.
Khiến năng suất và sản lượng lúa ở đây thấp. Trung Quốc có diện tích trồng lúa ở vị trí số 2 nhưng sản lượng lại dẫn đầu do năng suất khá cao. Ai Cập là nước có năng suất cao nhất khẳng định những tiến bộ vượt trội của họ trong việc vận dụng các phương pháp canh tác công nghệ cao. Tình hình xuất khẩu và dự trữ gạo của một số nước trên thế giới từ năm 2010-2011 ĐVT: triệu tấn Sản lượng gạo Xuất khẩu Dự trữ Quốc gia Năm 2010 Năm 2011 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2011 Thế giới 466,6 480,1 31,5 34,5 140,6 Trung Quốc 134,0 137,0 0,6 0,7 75,2 Ấn Độ 89,1 94,1 2,1 3,8 19,1 Indonesia 43,2 44,3 - - 5,4 Việt Nam 25,9 26,6 6,9 7,3 2,8 Thái Lan 21,3 20,9 9,0 10,5 5,2 Brazil 8,6 8,0 0,4 1,0 2,0 Mỹ 7,6 6,8 3,9 3,4 1,7 Pakistan 6,9 5,5 3,8 3,0 0,4 (Nguồn: FAO & USDA, 2011) Trong những thập niên gần đây do áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến có hiệu quả vào nông nghiệp do nên sản lượng lúa trên thế giới có mức tăng trưởng đáng kể.
Tuy nhiên, với tốc độ tăng dân số như hiện nay và nhất là các nước đang phát triển thì cần nghiên cứu để nâng cao năng suất và sản lượng hơn nữa mới đảm bảo nhu cầu lương thực của thế giới. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Việt Nam là nước có truyền thống trồng lúa lâu đời với nền văn minh lúa nước có trên 4. Nước ta nằm trong vùng địa lý - được xem như là khởi Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nguyên của cây lúa, chạy dài từ chân núi Hi Mã Lạp Sơn cho đến bờ biển Đông, nằm trên kinh tuyến 15 và giữa vĩ độ 80’B – 230’B được chia thành 7 vùng sinh thái nông nghiệp (miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long). Lúa gạo là nguồn thức ăn căn bản của dân tộc Việt Nam.
Cây lúa có thể sinh sống và thích nghi trong nhiều điều kiện khác nhau mà không phải loài cây lương thực nào cũng có thể có những tính trạng vô cùng đa dạng như vậy. Lúa gạo cung cấp nguồn lương thực chủ yếu, tạo việc làm cho hàng triệu người, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị trong lịch sử phát triển đất nước. Trong quá trình sản xuất lúa đã hình thành nên 2 vùng sản xuất rộng lớn đó là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của cả nước chỉ đạt 4,73 triệu ha, năng suất bình quân là 13 tạ/ha.
Hiện nay, với những tiến bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân đã được tiếp cận với các phương thức sản xuất tiên tiến nên họ đã mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với điều kiện đặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, … kết hợp đầu tư thâm canh cao, hợp lý. Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta đã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế. Cho đến nay sản lượng lương thực của chúng ta đạt 43,6 triệu tấn và giá trị xuất khẩu gạo đạt 6.754 nghìn tấn đã thu về 3. Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam qua các năm Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2006 7,32 4,89 35,8 2007 7,21 4,98 35,9 2008 7,41 5,22 38,7 2009 7,44 5,23 38,9 2010 7,51 5,32 39,9 2011 7,66 55,4 42,39 2012 7,76 56,4 43,74 2013 7,90 55,8 44,07 2014 7,81 57,6 44,98 2015 7,80 57,60 45,10 2016 7.79 56,00 43,60 (Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2017) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Kết quả ở bảng 1.4 cho thấy, từ năm 2006 đến nay, diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng tăng đều mỗi năm, năm 2006 diện tích 7,32 triệu ha, năng suất 4,89 tấn/ha và sản lượng 35,8 triệu tấn, thì đến năm 2016 diện tích 7,79 triệu ha, năng suất đạt 56 tấn/ha, sản lượng 43,6 triệu tấn.
Sở dĩ năng suất và sản lượng tăng lên chính là nhờ việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: Sử dụng các giống lúa mới có năng suất, chất lượng, ít sâu bệnh, kỹ thuật bón phân hợp lý, đầu tư thâm canh tốt,. Theo kết quả Do điều kiện thuận lợi về thị trường và thời tiết nên sản lượng lúa cả năm 2010 đã đạt mức cao kỷ lục từ trước tới nay là 39,9 triệu tấn. Theo ngành Nông Nghiệp năm 2010, Việt Nam đạt gần 40 triệu tấn lúa, về đích trước 5 năm (theo kế hoạch của Chính phủ, năm 2015 mới đạt 40 triệu tấn). So với năm 2000 thì sản lượng lúa cả nước năm 2010 tăng 22,7%, tương đương với mức tăng 7,4 triệu tấn.
Qua thống kê từ năm 2006-2015, sản lượng xuất khẩu gạo của chúng ta có biến động và tăng đều trong các năm, nhưng nhìn chung thì sản lượng xuất khẩu gạo giữa các năm vẫn biến động không lớn, thể hiện ở bảng 1. Năm 2007, sản lượng xuất khẩu đạt 3,729 nghìn tấn thấp nhất trong các năm, tuy nhiên giá trị thu lại đạt 726 triệu USD vẫn cao hơn so với năm 2006 và năm 2008. Năm 2010 được đánh giá là năm sản xuất, dự trữ và xử lý thông tin tốt, thông tin kịp thời để đưa lại một năm xuất khẩu gạo Việt Nam từ 4,059 nghìn tấn trong năm 2009 tăng lên đến 5,250 nghìn tấn trong năm 2010. Theo phân tích thì kim ngạch xuất khẩu năm này đạt mức khả quan do đóng góp từ tăng cả giá và lượng trước sự phục hồi phần nào của kinh tế thế giới so với năm 2009.
Do đó giá trị xuất khẩu gạo năm 2010 cao hơn 33,36% so với năm 2009. Năm 2015, sản lượng xuất khẩu đạt 6,754 nghìn tấn đạt cao nhất trong 10 năm từ năm 2006 -2015 và thu về 3. Vì lúa gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nó không chỉ mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà còn mang lại đời sống ấm no hơn cho người dân.
Trước kia, việc tiêu thụ khó khăn người nông dân chịu thiệt đủ đường thậm chí “bỏ ruộng treo ao” thì nay, sau khi đưa ra những rào cản bắt buộc đối với hoạt động xuất khẩu gạo, các chính sách được áp dụng linh hoạt người dân tích cực sản xuất và việc tiêu thụ thuận lợi hơn. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Bảng 1. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam qua các năm Chỉ tiêu Sản lượng Giá trị Năm (Nghìn tấn) (Triệu USD) 2006 3,729 625 2007 3,240 726 2008 3,813 721 2009 4,059 950 2010 5,250 1.