CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về cây Đào 1. Nguồn gốc và phân loại Các nhà thực vật học cho rằng, đào có nguồn gốc từ Trung Quốc và được đưa vào Ba Tư cũng như khu vực Địa Trung Hải theo con đường tơ lụa vào khoảng thiên niên kỷ 2 trước Công nguyên (Huxley và cs. Ngày nay, đào được trồng nhiều ở các nước Trung Quốc, Ý, Mỹ, Úc… Cây đào danh pháp khoa học Prunus persica Stokes hay Prunus persica (L.) Batsch, thuộc chi Prunus, họ Rosaceae.
Loài này có nhiều giống khác nhau: vỏ quả có lông tơ, hạt róc hoặc hạt dính; vỏ nhẵn, hạt róc hoặc dính (Bretaudeau và Fauré, 1991). Phân chi Amygdalus gồm 6 loài, 5000 giống, được trồng ở nhiều nước ôn đới và cận nhiệt đới (Châu Âu, Nga, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam). Các giống đào trồng được chia thành hai loại là "hạt rời" và "hạt dính", phụ thuộc vào việc hạt có dính với cùi thịt hay không; cả hai loại này đều có cùi thịt trắng hay vàng. Quả đào với cùi thịt trắng thông thường có vị rất ngọt và ít vị chua, trong khi loại có cùi thịt màu vàng thông thường có vị chua kèm theo vị ngọt, mặc dù điều này cũng có sự dao động lớn.
Cả hai màu thông thường đều có các vệt đỏ trong lớp thịt của chúng. Loại đào cùi trắng, ít chua phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xung quanh, trong khi người châu Âu và Bắc Mỹ ưa thích loại có cùi thịt màu vàng và có vị chua hơn (Huxley và cs. Đặc điểm thực vật học của cây đào - Rễ Rễ đào tập trung chủ yếu ở trên tầng đất mặt từ 10 – 50cm tuỳ thuộc từng giống và từng loại đất. Một số rễ cái ăn sâu vào lòng đất giúp cho cây đứng vững không bị đổ.
Với đặc điểm phân cành sớm và nhiều cành nhỏ cộng lại với một số rễ cái nằm sâu, lá nhỏ nhẹ, cây đào ít bị đổ khi gặp gió bão. Ngoại trừ trồng trên đất mùn hoặc đất đá vôi cây thường bị đổ do nguyên nhân là đất quá 5 tơi xốp và dễ bị sụt lở. Tuy nhiên hoa và quả rất dễ bị rụng do gió bão nên khi thiết kế vườn đào người ta thường thiết kế đai rừng chắn gió (Trần Thế Tục, 1994; Yung Kyung Choi và Jung Hokim, 1972). Khác với các loại rễ cây ăn quả khác, trên rễ đào nhất là phần nổi trên mặt đất thường có các mầm ngủ.
Trong điều kiện thích hợp, các mầm ngủ có thể bật mầm mọc thành cây. Lợi dụng đặc điểm này, người làm vườn có thể nhân giống đào bằng giâm rễ. Rễ đào thường phát triển theo chiều ngang do đó các mầm ngủ của rễ phần gần sát mặt đất khi gặp điều kiện thuận lợi thường mọc thành cây. Qua quan sát phát triển khoảng không gian mọc của cây con cho thấy rễ đào thường phát triển rộng hơn tán cây (Trần Thế Tục, 1994; Yung Kyung Choi và Jung Hokim, 1972).
- Thân cành Bình thường khi để mọc tự nhiên, đào thuộc loại cây gỗ nhỡ, thông thường cây gieo hạt có một thân chính và 2 đến 3 thân phụ toả về các phía (cành cấp I). Nếu đào được nhân bằng cành chiết hay ghép số thân phụ sẽ lớn hơn. Cây trung bình cao 3 - 4m, tán xoè rộng có nhiều cành nhỏ (Trần Thế Tục, 1994; Yung Kyung Choi và Jung Hokim, 1972). Tán cây để bình thường tuỳ từng loại và điều kiện sinh thái mà hình dáng khác nhau, vùng nhiệt đới tán cây có hình mâm xôi hay chóp nón, cây sinh trưởng khoẻ, cành rậm rạp.
Cành của cây đào có thể ra quả nhiều lần trên một cành, nhiều cành vừa là cành quả vừa là cành mẹ. Đặc điểm này có ở hầu hết các loài trong chiPrunusgồm đào, mơ, mận (Trần Thế Tục, 1994; Yung Kyung Choi và Jung Hokim, 1972). Ở cây đào, cành sẽ trở thành cành quả hoặc không là phụ thuộc vào sức sinh trưởng của cành (đường kính, số lá, chiều dài). Cũng ít khi phụ thuộc vào tuổi cành.
Tuy nhiên những cành ra vào cuối thu năm trước có thể rất nhỏ, 7 tháng đến nhiều năm tuổi, thậm chí ngay cả cành cấp I và cấp II ở cây đào cao tuổi đôi khi cũng ra hoa và đậu quả tốt. Điều này cũng cho thấy để trở thành cành mẹ hoặc cành quả ở cây đào phụ thuộc vào độ chín sinh lý, thời gian ngủ nghỉ qua đông để đảm bảo độ chín sinh lý cần thiết. Ở những nước có khả năng 6 thâm canh cao, hình dáng bộ tán cây đào không trở nên quan trọng do cành được uốn nắn và cố định theo các khung đai cứng định sẵn. - Lá Nhìn chung lá đào có hình dáng tương đối đồng nhất giữa các loài, hình dáng bầu dục của lá là một đặc trưng hình thái của cây đào.
Độ lớn của lá rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng loài và giống, nhìn chung dao động từ 1cm đến 4cm (chiều rộng); 5cm đến 10 cm (chiều dài). Gân lá nổi rõ mép lá có hình răng cưa rõ rệt hoặc không rõ rệt tuỳ từng giống từng loài, đỉnh lá nhọn hoặc tù. Màu sắc lá cũng rất khác nhau tuỳ giống. Nhìn chung lá đào có màu đặc trưng: đỏ, tím, xanh, xanh đậm, xanh nhạt.Lá đào thường rụng vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 12 hoặc sớm hơn một chút tùy theo vùng sinh thái(Trần Thế Tục, 1994).
Những vườn đào giai đoạn còn non (kiến thiết cơ bản) trồng ở những vùng nóng ẩm lá có thể rụng không triệt để, đôi khi còn lại một vài lá già ngả màu xanh vàng, chỉ đến khi cây ra hoa số lá này mới rụng hết để cành bật lộc mới. Lá đào rụng càng sớm càng triệt để chứng tỏ điều kiện ngoại cảnh và nội tại giúp cây có quá trình ngủ sâu trong vụ Đông, thì hoa nở càng nhiều và tỷ lệ đậu quả rất cao, chất lượng quả tốt (Trần Thế Tục, 1994). - Hoa Màu sắc của hoa đào tuỳ từng loài có màu đỏ tươi, màu hồng, hoặc màu trắng. Hoa đào thuộc loại hoa nhỏ, tính theo hình chiếu không gian của hoa, đường kính hoa giao động từ 5mm đến 25 mm tuỳ từng loài.
Hoa đào thường là 5 cánh hoa nở đều về 4 phía, có những giống số cánh hoa có thể nhiều hơn (như đào bích kép), phần đài hoa bao bọc lấy bầu, có từ 20-30 chỉ nhị, chiều cao của chỉ nhị thường tương đương với chiều cao của cánh hoa, bao phấn không nở sớm mà nở vào thời điểm hoa đã nở. Đầu nhụy vươn lên ngay kề cạnh bao phấn. Hoa đào nở vào khoảng tháng 12 đến tháng 2 hàng năm, đối với những giống đào dại (đào thóc) thường nở sớm hơn và có quả chín sớm hơn. Ở các nước châu Á nhất là Trung Quốc và Việt Nam, giống đào hoa có ý nghĩa về mặt kinh tế do lấy quả và bán hoa (Trần Thế Tục, 1994).
7 Phần lớn các giống đào không có khả năng tự thụ nghĩa là: Khi tự thụ quá trình thụ tinh không xảy ra và kết qủa là tỷ lệ đậu quả thấp, thậm chí hoa rụng 100%. Bởi vậy, muốn có được năng suất cao, cần phải trồng xen trong vườn đào ăn quả với các giống đào khác nhau để làm cho cây có nguồn hạt phấn phong phú hơn. - Quả Đào là loại quả hạch, độ lớn của quả đào thay đổi rất nhiều tuỳ thuộc từng loại, các giống đào châu Á quả thường nhỏ hơn đào châu Âu và châu Mỹ, loại to khoảng 8-10 quả/kg. Màu sắc quả cũng thay đổi rất nhiều tuỳ giống, từ vàng đỏ, vàng trắng và một số quả khi chín vẫn giữa nguyên màu xanh.
Cũng có một số giống đào khi quả chín còn phủ lớp lông trắng bên ngoài, lớp lông này có tác dụng bảo vệ quả chống sự xâm nhiễm của vi khuẩn, nấm, tránh cho quả hấp thụ quá lớn nhiệt độ vào khi trời quá nóng (Trần Thế Tục, 1994). Một số giống đào sớm quả thường chín vào khoảng giữa từ tháng 4 đến đầu tháng 5, các giống chín trung bình vào khoảng cuối tháng 5 đầu tháng 6, giống chín muộn vào khoảng cuối tháng 6. Nhìn chung thời gian chín của đào có thay đổi theo từng vùng sinh thái và thay đổi theo từng lục địa khác nhau. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển - Giai đoạn sinh trưởng Đào là cây ăn quả có thân gỗ nhỏ, rụng lá ở vùng ôn đới, lá đào rụng về mùa Đông.
Thời kỳ non cây sinh trưởng nhanh, trong khi một năm cành sinh trưởng có thể đạt tới 2-3 lần. Tuổi thọ của cây đào còn phụ thuộc vào chủng loại giống, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật nhân giống, trồng trọt.mà có sự khác nhau rõ ràng (đào trồng bằng hạt có tuổi thọ cao hơn trồng bằng cây ghép và chiết cành và giâm rễ). Giống đào Trung Quốc có tuổi thọ cao hơn giống đào châu Âu. Sựnảy lộc, đâm chồi của đào tương đối mạnh, cây đào ra lộc mỗi năm 2-3 đợtlộc vào các vụ Xuân, vụ Hè, vụ Thu, chồi lá phát sinh ở ngọn cành và từ lá mọc cả chồi hoa.
Sau khi thu hái quả thì chồi ngọn của cành quả năm trước vươn dài thành cành quả mới và kéo dài liên tục trong 4-5 năm liền. 8 - Giai đoạn phát triển Cây đào ra hoa trong tháng 12-2 dương lịch và phát triển quả tới tháng 5-6 thì chín, quả chín kéo dài trong gần một tháng. Cây trồng bằng hạt sau trồng 4 năm trở nên mới ra hoa, cho thu hoạch quả. Cây trồng bằng cây ghép, chiết thì sau trồng 2-3 năm thì có quả và 5-6 năm thì bước vào thời kỳ sai quả.
Trồng bằng cây ghép sớm ra hoa hơn so với cây trồng bằng gieo hạt. Cành quả có thể phân ra cành dài, trung bình, ngắn và cành quả ngắn có nhiều hoa và cành quả ngắn. Loại cành quả dài và trung bình tuy phát dục tốt, các đốt mầm hoa nhiều, lượng hoa nở không ít, nhưng do ở đầu các cành thường nảy các cành mới, dinh dưỡng tiêu hao nhiều, nên rễ bị rụng hoa, rụng quả. Hiện tượng cây đào tự thụ phấn không thành quả tương đối nghiêm trọng, vấn đề này có liên quan đến các bộ phận của hoa phát dục không hoàn toàn, thụ phấn không tốt hoặc cung cấp dinh dưỡng không đủ.
Do đó mỗi cành quả ngắn có nhiều hoa, có thể nở từ 10-20 hoa nhưng số lượng quả đậu chỉ từ 2-4 quả. Sự sinh trưởng phát dục của quả đào có thể phân chia làm 3 thời kỳ: - Thời kỳ thứ nhất: Từ sau khi thụ phấn cho đến khi hạt bắt đầu cứng. Trong thời kỳ này sự sinh trưởng của quả tương đối nhanh, có thể nhìn thấy sự lớn của quả.