Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khái niệm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đề tài Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách, hạn chế còn tồn tại và hướng phát triển đề tài. 3 CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 2.1 Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh theo Karl Marx (1978) định nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch. Theo Từ điển tiếng Việt “Cạnh tranh được hiểu là cố giành phần hơn, phần thắng về phía mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm vào những lợi ích như nhau”. Thị trường cạnh tranh là thị trường có nhiều người bán, người mua, mỗi người không có khả năng làm thay đổi giá của thị trường.
Cạnh tranh gắn liền với kinh tế thị trường. Cạnh tranh tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết hệ thống thị trường. Các nhà kinh doanh hoạt động trong môi trường cạnh tranh phải luôn đổi mới không ngừng, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ khoa học - kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cạnh tranh có thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh tự do, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Lý thuyết về cạnh tranh luôn là trọng tâm của tư duy kinh tế. Quan niệm về cạnh tranh bắt nguồn từ tác phẩm The Wealth of Nations (Sự giàu có của các quốc gia) tác giả Adam Smith (1776). Theo nghiên cứu của ông, cạnh tranh tự do hướng tới trạng thái cân bằng. Về lâu dài, cạnh tranh tự do hướng tới trạng thái giá bằng với chi phí sản xuất.M (1940), định nghĩa cạnh tranh là hành động nỗ lực để đạt được những gì những người khác cùng nỗ lực giành lấy tại cùng một thời điểm.
Theo Stigler (1957), cạnh tranh được định nghĩa xảy ra giữa các cá nhân, tập thể khi hai hoặc nhiều bên muốn đạt được một thứ mà tất cả các bên không thể cùng có được. 4 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có các giả định sau: (1) các sản phẩm được bán phải giống nhau hoàn toàn, và (2) số lượng người mua và người bán là quá lớn và do đó không một cá nhân đơn lẻ nào có khả năng tác động đến mức giá thị trường (3) không gặp rào cản khi gia nhập thị trường, không gặp hạn chế về sự di chuyển của giá cả và tài nguyên, (4) tất cả những người tham gia thị trường phải có kiến thức am hiểu về thị trường. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (thị trường độc quyền) là thị trường chỉ có một người bán. Họ sẽ quyết định giá bán và được gọi là nhà độc quyền.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam “Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. Theo Michael Porter (1990), trong tác phẩm The Competitive Advantage of Nation (Lợi thế cạnh tranh của quốc gia) tác giả đề cập “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp càng ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Cạnh tranh là một vấn đề đáng lưu ý khi nghiên cứu phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Mức độ cạnh tranh phụ thuộc khả năng định giá sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có sức mạnh định giá cao, doanh nghiệp có thể chuyển giá tăng đầu vào qua khách hàng, bảo vệ lợi nhuận. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ chịu áp lực trong thời gian giá đầu vào tăng dẫn đến lợi nhuận sụt giảm. Do đó, nghiên cứu về cạnh tranh hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư.2 Đo lường cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm phức tạp nên không thể quan sát trực tiếp.
Có 2 cách tiếp cận để lượng hóa cạnh tranh: tiếp cận theo hướng cấu trúc và phi cấu trúc. 5 Tiếp cận theo hướng cấu trúc nghiên cứu mức độ cạnh tranh dựa vào cấu trúc của thị trường.Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc là đánh giá mức độ cạnh tranh trực tiếp bằng cách quan sát hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường. Dựa vào cấu trúc thị trường, ba biện pháp đo lường độ tập trung hiệu quả được sử dụng phổ biến là số lượng các doanh nghiệp, chỉ số tập trung và chỉ số Herfindahl-Hirschman (chỉ số HHI). Bikker and Haaf (2002) đưa ra các biện pháp đo lường độ tập trung khác như Hall-Tideman Index, Rosenbluth Index, CCI, Hannah- Kay Index, U-Index, Hause Index, Entropy Index.
Đo lường bằng số lượng các doanh nghiệp Số lượng các doanh nghiệp là chỉ số đơn giản nhất để tính toán độ cạnh tranh trong chừng mực dữ liệu yêu cầu rất hạn chế. Điểm yếu của chỉ số này đó là không tính đến độ phân tán các doanh nghiệp. Độ tập trung giữa hai ngành có thể khác nhau rất nhiều nếu một ngành chỉ bị chi phối bởi một doanh nghiệp còn ngành còn lại bao gồm nhiều doanh nghiệp với tổng về quy mô như nhau. Đo lường bằng chỉ số tập trung Đây là phương pháp đo lường đơn giản, yêu cầu về dữ liệu rất ít.
Đo lường bằng chỉ số tập trung đòi hỏi nhiểu thông tin hơn so với phương pháp đo lường bằng số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về thị phần trong ngành của các doanh nghiệp. Chỉ số tập trung đo lường thị phần của k doanh nghiệp thuộc hàng đầu trong ngành: CRk= ∑𝒌𝒊=𝟏 𝑺𝒊 trong đó S1≥….Sk≥Sn ∀ 𝒏 ≥ 𝒌 Trong đó Si là thị phần của doanh nghiệp thứ i, các doanh nghiệp được xếp theo thị phần giảm dần, n là tổng số doanh nghiệp. Chỉ số tiến gần tới 0 khi có một lượng hữu hạn các doanh nghiệp có cùng quy mô và tiến gần tới 1 nếu doanh nghiệp chiếm toàn bộ thị phần ngành. Tuy nhiên, chỉ số chỉ đo lường thị phần của k doanh nghiệp hàng đầu dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp nhỏ hợp nhất với nhau có thể không được phản ánh trong chỉ số này mặc dù mức độ tập trung của thị trường tăng lên.
6 Đo lường cạnh tranh bằng chỉ số HHI Chỉ số Herfindahl-Hirschman (Hirschman, 1964) là thước đo phổ biến về sự tập trung của thị trường và được sử dụng để xác định khả năng cạnh tranh thị trường. Ưu điểm của chỉ số HHI giải quyết vấn đề thị phần và cạnh tranh giữa các công ty quy mô lớn. Tuy nhiên, chỉ số HHI cũng có hạn chế như không giải quyết vấn đề rào cản gia nhập vì mức độ cạnh tranh có thể thấp nhưng nếu rào cản gia nhập thấp cạnh tranh có thể tăng lên, vấn đề xác định thị phần cụ thể liên quan yếu tố địa lý. Chỉ số HHI yêu cầu thông tin về thị phần của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường.
HHI được tính bằng tổng các bình phương thị phần của mỗi doanh nghiệp cạnh tranh trong một thị trường. 𝒏 với n là tổng số doanh nghiệp trên thị trường. Thị trường càng gần độc quyền càng tập trung và cạnh tranh càng thấp. Chỉ số nằm trong khoảng từ 1/n đối với các doanh nghiệp có cùng quy mô đến 1 biểu thị độc quyền.
Theo Cetorelli (1999) ở Mỹ, ngành ngân hàng được xem là cạnh tranh nếu chỉ số HHI nhỏ hơn 0.1, là thị trường hơi tập trung nếu chỉ số ở trong khoảng từ 0.18 và thị trường độc quyền nếu chỉ số lớn hơn 0. Chỉ số HHI có ưu điểm dễ tính toán, tuy nhiên, chỉ số không tính được độ phức tạp của các thị trường khác nhau. Dựa vào hướng phi cấu trúc thị trường: Đo lường cạnh tranh bằng chỉ số Lerner Nhà kinh tế học Abba Lerner (1934) trong tác phẩm “ Khái niệm về độc quyền và đo lường sức mạnh độc quyền”- bài báo lớn đầu tiên của tác giả về kinh tế học phúc lợi, đưa ra ý tưởng độc quyền là vấn đề về mức độ, sức mạnh độc quyền phụ thuộc vào phần chênh lệch của giá so với chi phí cận biên. Chỉ số Lerner luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1: càng gần giá trị 0 tức là càng gần với cạnh tranh hoàn hảo; càng gần giá trị 1, sức mạnh thị trường của người bán càng cao nên càng gần với độc 7 quyền.
Một nhà độc quyền tìm cách tối đa hóa lợi nhuận sẽ không thuộc phần không co giãn của đường cầu E<1, giải thích lý do vì sao độ co giãn luôn nằm trong khoảng ∞ ≥ E ≥ 1. Độ lệch giữa giá cả và chi phí biên càng lớn cho thấy sức mạnh độc quyền càng cao. Do giá cả hay thông tin chính xác về cấu trúc chi phí của doanh nghiệp khó thu thập chính xác, chỉ số Lerner sử dụng độ co giãn của cầu theo giá: chỉ số Lerner tương đương với giá trị tuyệt đối của độ co giãn của cầu khi giá được thiết lập nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Mặc dù chỉ số Lerner được phát triển từ những năm 1930 nhưng chỉ được ứng dụng thực sự hiệu quả từ ba thập kỷ trở lại đây do khó khăn trong việc đánh giá chi phí biên.
Chi phí biên được ước tính từ hàm chi phí theo phương pháp kinh tế lượng. Ưu điểm của chỉ số Lerner là định lượng từng ngân hàng cụ thể, thay đổi theo thời gian nên dễ dàng so sánh giữa các ngân hàng và/hoặc trong các giai đoạn, là một thước đo tốt để lượng hóa sức mạnh thị trường. Mô hình Panzar-Rosse (Rosse và Panzar, 1977; Panzar và Rosse, 1982, 1987) được áp dụng rộng rãi để lượng hóa cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Chỉ số này cho thấy giá đầu vào được truyền dẫn vào doanh thu của doanh nghiệp.
Thị trường càng cạnh tranh khi giá trị chỉ số càng tăng.