Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 0 0 CHƯƠNG 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN 2.1 Khái niệm và cách đo lường tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là tỷ lệ của vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro của ngân hàng, phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng. Theo tác giả Mpuga (2002) cho răng ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn càng cao thì ngân hàng càng vững mạnh. Bởi vì với tỷ lệ an toàn vốn cao, ngân hàng càng khó có khả năng vỡ nợ. Theo tác già Abel & Rafael, (2007) tỷ lệ an toàn vốn là mức vốn tối thiểu mà các ngân hàng phải duy trì theo yêu cầu của cơ quan quản lý, nó xuất phát từ mục đích tối đa hóa một hàm phúc lợi xã hội có tính tới chi phí (sự gia tăng chi phí tín dụng) và lợi ích của vốn (giảm sác xuất thất bại của ngân hàng).
Shahatit (2011) cho răng tỷ lệ an toàn vốn có kỳ hạn phản ánh khả năng và hiệu quả của các ngân hàng thương mại trong việc đo lường và giám sát các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, để không chỉ hạn chế và kiểm soát rủi ro mà còn đưa ra các quyết định phù hợp với chiến lược ngân hàng và các chính sách ngân hàng. Tóm lại tỷ lẹ an toàn vốn là mức vốn ngân hàng cần phải duy trì theo quy đinh của cơ quan quản lý, nhằm hạn chê tối thiêu rủi ro không mong muốn và có thê đảm bảo an toàn cho ngân hàng và khách hàng gửi tiền. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định băng công thức sau: �ố� �ủ �ở �ữ� Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (%) = �ổ� �à� �ả� �ó �ủ� � x 100% Trong đó: Vốn chủ sở hữu được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 Thông tư 36/2014/TT-NHNN. Tổng tài sản Có rủi ro là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 36/2014/TT-NHNN.
Vì vậy tỷ lệ an toàn vốn mang một vai trò quan trọng trong việc phát triển và giảm thiểu mức độ cho ngân hàng và khách hàng. Từ đó nâng cao uy 0 0 tín của cả hai bên, tạo thị trường cạnh tranh minh bạch và lành mạnh. Tăng mạnh mức độ tin cậy của HTNH đồng thời tăng cường tính kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, tỷ lệ an toàn vốn tuỳ thuộc vào quy định của các cơ quan quản lý ngân hàng ở từng quốc gia.
Đồng tời an toàn vốn cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố của bản thân ngân hàng và các điều kiện của nền kinh tế.2 Tỷ lệ an toàn vốn theo BASEL Tại Việt Nam,năm 1999 theo quyết định 297/1999 có hiệu lực ngày 25/8/1999 với mức tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh đầy đủ hết tiêu chuẩn của Basel I. Từ năm 2005 việc triển khai áp dụng các tiêu chuẩn của Basel đã bước đầu được thực hiện khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quyết định 457/2005/QĐ-NHNN dựa trên một số tiêu chuẩn của Basel I. Qui định cho Tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro. Trong đó, vốn tự có của ngân hàng được chia thành 2 thành phần: vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
Tài sản “Có” rủi ro quy đổi bao gồm: tài sản “Có” rủi ro nội bảng và tài sản “Có” rủi ro của các cam kết ngoại bảng. Sau khi xuất hiện hàng loạt các vấn đề về khủng hoảng kinh tế với sự sụp đổ của rất nhiều ngân hàng lớn như: Northern Rock, Lehman Brothes, Fiannie Mae, Freddie Mac, Washington Mutual,. Với tình hình khẩn cấp như vậy các ngân hàng Việt Nam cấp tín dụng quá lớn vào bất động sản và chứng khoán, NHNN đã nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 1%. Tháng 5/2010, NHNN đã ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng thay thế Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng lên 9% và nâng cao hệ số rủi ro lên 5 bậc 0%, 20%, 50%, 100% và thêm 250% so với QĐ 457/2005/QĐ-NHNN và với tinh thần từng bước tiếp cận Basel II.
Năm 2014, Đối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được yêu cầu mới của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự gặp khó khăn trước yêu cầu tăng vốn tự có nhăm đảm bảo an toàn. Trước thực trạng này, NHNN đã ban hành Thông tư 36/2014/TT- NHNN thay thế Thông tư 13/2010/TT-NHNN, với phương pháp tiếp cận nhiều hơn các nội dung của Basel II, nhưng tỷ lệ an toàn vốn vẫn quy định tối 0 0 thiểu ở mức 9% và hệ số ro có chút thay đổi là: 0%, 20%, 50%, 100% và 150% nhưng vẩn chưa tính tới rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động trong tổng tài sản của rủi ro. Ngày 30/12/2016, NHNN đã ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với các ngân hàng ở Việt Nam, nội dung trong Thông tư 41 CAR lớn hơn 8%, CAR được tính băng vốn tự có trên tổng tài sản rủi ro.
Và CAR tính tới rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động trong tổng tài sản của rủi ro càng về sau tiệm cận gần 100% nội dung của Basel II. Hiện nay các NHTM ở Việt Nam nói chung và 10 ngân hàng được lựa chọn thí điểm triển khai Thông tư 41 nói riêng đang gấp rút chuẩn bị các điều kiện để áp dụng tiêu chuẩn Basel II theo đúng lộ trình mà Ngân hàng Nhà nước đã đề ra, hiệu lực thực hiện từ ngày 1/1/2020. Câu hỏi đặt ra tại sao đên nay Viẹt Nam ta chưa áp dụng Basel 3? Nguyên nhân đươc giải thích như sau: Hiện tại, thực hiện đúng theo Basel 2 thì không ít ngân hàng đang phải gồng mình đẩy tỷ lệ an toàn vốn và thanh khoản về mức cho phép. Nếu áp dụng Basel 3 sẽ gây thêm khó khăn cho các ngân hàng trong thời điểm hiện nay, đặc biệt là trước diễn biến khó lường của đại dịch Covid-19.
Bên cạnh đó, Basel 3 sẽ làm thay đổi chiến lược kinh doanh của ngân hàng do liên quan đến cấu trúc lại bảng cân đối, cấu trúc thanh khoản hay nắm giữ tài sản thanh khoản. Trước những quy chuẩn ràng buộc đó thì câu chuyện phát triển kinh doanh của ngân hàng theo mô hình truyền thống như cho vay bất động sản, du lịch, cho vay một số ngành liên quan đến xuất nhập khẩu… sẽ gặp vấn đề khi cơ cấu lại để vừa đảm bảo quy định an toàn, vừa đảm bảo lợi nhuận biên tăng như kỳ vọng, trong khi vốn cũng cần tăng để đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn ở mức cao hơn. Ngoài ra, các ngân hàng cần có kế hoạch đầu tư như tuyển dụng nhân sự, xây dựng mô hình đo lường và triển khai các hệ thống công nghệ thông tin tương ứng theo quy chuẩn Basel 3.3 Quy định pháp luật về tỷ lệ an toàn vốn tại Việt Nam Theo tác giả nghiên cứu Điều 9 Thông tư số 36/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 36) thì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của 0 0 TCTD trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của TCTD. Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD (Thông tư 13), đã quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất tối thiểu là 9%.
Hiện nay, Điều 9 Thông tư 36 quy định “Từng TCTD phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ 9%” và “TCTD có công ty con, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ theo quy định tại điểm b khoản này phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất 9%”. Tuy nhiên với các NHTM Việt Nam vào các năm 2012-2016 thì CAR trung bình đều đảm bảo được yêu cầu là 9% và có xu hướng tăng lên sau đó nhưng điều đó làm gây ra một vấn đề về phân hóa NHTM lớn và nhỏ. Các ngân hàng lớn thường có CAR thấp hơn, ví dụ: Ngân hàng BIDV chỉ có tỷ lệ an toàn vốn theo tiêu chuẩn là > 9%, nhưng với những ngân hàng nhỏ thì có tỷ lệ an toàn vốn rất cao, ví dụ: Ngân hàng NCB, Đông Á Bank thì có tỷ lệ an toàn vốn lớn gần 20%. Thể hiện sự chênh lệch quá lớn và gây phân hóa NHTM.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ LỆ AN TOÀN VỐN CỦA NHTM 2.1 Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng (SIZE) được xác định băng cách logarit tự nhiên tổng tài sản của ngân hàng.
Cũng có các khái niệm khác như quy mô của các ngân hàng là một yếu tố quan trọng của các NHTM vì nó thể hiện sự sở hữu của ngân hàng và việc tiếp cận với các vốn chủ sở hữu khác của tác giả Võ Hồng Đức (2014). Khi xác định quy mô của ngân hàng, tổng tài sản không được lấy trực tiếp, vì số liệu này quá lớn sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả nghiên cứu (Phạm Thị Tuyết Trinh, 2016). Quy mô ngân hàng lớn đồng nghĩa với việc thu nhập từ dịch vụ ngân hàng cũng lớn (Chiorazzo và cộng sự, 2008). Việc ngân hàng tiếp cận được đến các nguồn vốn sở hữu sẽ phản ánh mức độ hoạt động của ngân hàng khả năng tiếp cận thị trường cũng như khả năng tránh phá sản và rũi ro quản lí của ngân hàng.
Xét xem từng góc độ của ngân hàng thì quy mô là một yếu tố giúp ích cho việc mở rộng lĩnh vực hoạt động của ngân hàng. Năm 2002, Jackson và các tác giả đưa ra lời đề nghị các ngân hàng lớn nếu muốn giữ vững xếp hạng tốt thì cần phải có một lượng vốn dự trữ đáng kể 0 0 và được thị trường xác nhận.