Chương 1 đã điểm qua các cấu phần chính của đề tài, từ lý do lựa chọn đề tài, quá trình thực hiện đến ý nghĩa khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Chương tiếp theo sẽ đi sâu hơn vào từng khái niệm liên quan đến đề tài và những cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài này. 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU & GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Lý luận chung về TNXH và Hành vi tránh thuế của doanh nghiệp 2.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ TNXH được biết đến khi nhà kinh tế học Howard R. Bowen phát hành ấn phẩm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” vào năm 1953. Theo Bowen, doanh nghiệp nên theo đuổi các chính sách, quyết định, hành động có giá trị cho xã hội.
Thập niên 1950 được xem là thời kì bùng nổ những tranh luận về khái niệm TNXH do không thống nhất được quan điểm. Có nghiên cứu cho rằng TNXH là các quyết định và hành động của doanh nhân được thực hiện vì những lí do nằm ngoài lợi ích kinh tế hay kỹ thuật của doanh nghiệp. Hoặc cũng có trường phái lại cho rằng TNXH là các vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp có ảnh hưởng không tốt lên môi trường xã hội và về các nguyên tắc đạo đức chi phối mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội. Thời kì thập niên 1970 đã xuất hiện trường phái nghiên cứu cho rằng nộp thuế là TNXH của doanh nghiệp và đại diện cho trường phái này là nhà kinh tế học người Mỹ Milton Friedman.
Theo Friedman (1970), “doanh nghiệp nên tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận và nộp thuế đầy đủ, vì thuế là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước và giúp Nhà nước điều hành nền kinh tế. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp là tạo lợi nhuận để đóng góp thuế cho ngân sách nhà nước (“NSNN”), trách nhiệm của cơ quan nhà nước là sử dụng tiền thuế đó một cách hiệu quả vì cộng đồng, xã hội. Một doanh nghiệp được xem là thực hiện tốt TNXH là khi thực hiện đầy đủ các trách nhiệm về thuế với nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh phải tuân thủ theo quy định pháp luật”. Một số quan điểm khác lại cho rằng, TNXH không chỉ bao gồm việc tạo ra lợi nhuận mà còn phải tuân thủ quy định pháp luật, có đạo đức và doanh nghiệp phải tham gia các hoạt động hỗ trợ xã hội.
Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ pháp luật một cách công bằng, đáp ứng các chuẩn mực và giá trị cơ bản 11 mà xã hội kì vọng. Doanh nghiệp phải coi TNXH là cam kết để cải thiện phúc lợi cộng đồng, được thể hiện qua các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như việc đóng góp một cách tự nguyện cho xã hội bởi bản chất doanh nghiệp là một phần của xã hội. Hoạt động của doanh nghiệp do đó có ảnh hưởng đến xã hội, và doanh nghiệp phải có trách nhiệm với những tác động mà mình gây ra cho xã hội. Mặc dù trên thế giới có nhiều tranh luận khác nhau về khái niệm TNXH nhưng nhìn chung, TNXH được hiểu là cam kết của doanh nghiệp với đạo đức kinh doanh, không chỉ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động mà còn mang lại lợi ích cho cộng đồng và xã hội.
TNXH được đưa vào chiến lược kinh doanh, trở thành nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ngày nay, TNXH của doanh nghiệp được thực hiện chủ yếu thông qua các bộ quy tắc ứng xử quy định những nội dung về môi trường, xã hội và đạo đức. Từ bộ quy tắc đầu tiên do Levi Strauss xây dựng năm 1991 đến nay đã có hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử được nhiều công ty đa quốc gia xây dựng bao gồm tiêu chuẩn SA 80002 do Tổ chức Quốc tế về TNXH xây dựng năm 1997. Hầu hết các bộ quy tắc đều tuân thủ nguyên tắc trong công ước cơ bản của Tổ chức Lao động Quốc tế3 (N.
Có thể nói, TNXH được giới thiệu vào Việt Nam thông qua các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty này thường xây dựng được bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực văn hóa kinh doanh có tính phổ biến để áp dụng trên nhiều địa bàn và thị trường khác nhau. Do đó, nội dung liên quan đến TNXH được các công ty này thực hiện có bài bản và đạt hiệu quả cao (N. Dễ dàng có thể thấy một số ví dụ điển hình là chương trình “Tôi yêu Việt Nam” do Công ty Honda Việt Nam phối hợp với Ủy ban ATGT Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Cục 2 SA 8000 là tiêu chuẩn chứng nhận xã hội hàng đầu cho các nhà máy và tổ chức trên toàn cầu.
được ban hành bởi Social Accountability International vào năm 1997. SA 8000 đo lường hiệu suất xã hội trong 08 lĩnh vực quan trọng (bao gồm lao động trẻ em, lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, sức khỏe và an toàn người lao động, tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể, phân biệt đối xử, thực hành kỷ luật, giờ làm việc, lương và thù lao, hệ thống quản lý) đối với TNXH tại nơi làm việc. Được gắn trên 01 hệ thống quản lý cho tất cả các lĩnh vực của Tiêu chuẩn. 3 Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labor Organization – ILO) là một cơ quan đặc biệt của Liên Hợp Quốc liên quan đến các vấn đề về lao động.
ILO ra đời năm 1919 sau Hiệp ước Versailles và là thành viên của Hội Quốc Liên. 12 Cảnh sát Giao thông – Bộ Công an, được triển khai từ năm 2004; hay như chương trình “Trường học Xanh – Sạch – Khỏe” do Unilever Việt Nam phối hợp cùng Bộ Giáo dục & Đào tạo triển khai trên toàn quốc; chương trình “Nhịp tim Việt Nam” hỗ trợ phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh của Tổ chức VinaCapital, … Đối với doanh nghiệp trong nước, các công ty sản xuất xuất khẩu có lẽ là đối tượng đầu tiên tiếp cận với TNXH. Các đơn hàng xuất khẩu luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về chế độ lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, an toàn sản phẩm. Ngoài ra, một số doanh nghiệp nội địa cũng chủ động thực hiện TNXH và tạo nhiều hình ảnh tốt với cộng đồng và khách hàng như tập đoàn Mai Linh, Tân Tạo, VinGroup, FPT, Kinh Đô, … Các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện TNXH của mình thông qua những nỗ lực để đạt các chứng chỉ quốc tế hoặc đạt tiêu chuẩn quy định trong những bộ Quy tắc ứng xử (T.
Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có khả năng đáp ứng đủ điều kiện về tiêu chuẩn để đạt chứng chỉ này. Do đó, việc thực hiện TNXH ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Không chỉ vậy, tại Việt Nam, hệ thống chính trị, luật pháp, phát triển kinh tế và văn hóa là những yếu tố thể chế quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH. Việt Nam đang từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường trong khi vẫn duy trì chính quyền đơn đảng.
Sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế vẫn được xem là đáng kể. Việc tập trung vào định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế ngụ ý tầm quan trọng của TNXH đối với các mục tiêu của Chính phủ. Chính phủ đã có những cải cách về một số khía cạnh của TNXH nhằm cải thiện pháp luật về môi trường và quyền của người lao động, mang lại tín hiệu tích cực cho việc thực hiện TNXH. Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn thiếu một chính sách về TNXH nhất quán.
Cơ quan chính có liên quan tới TNXH hiện tại là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nơi phụ thuộc vào nguồn tài trợ từ bên ngoài cho các dự án liên quan đến TNXH. Các sáng kiến công về TNXH chủ yếu đến từ các tổ chức như Hiệp ước Toàn cầu Liên Hợp Quốc (United Nations Global Compact) hoặc Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), tuy nhiên không mang tính ổn định khi nguồn tài trợ dự án kết thúc. Các chính sách về TNXH có cải tiến tích cực nhưng năng lực thực hiện còn yếu. Do đó, việc thực hành TNXH 13 mang đến cả cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp.
Là một nền kinh tế mới nổi, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có triển vọng nhất ở Đông Nam Á với tốc độ tăng trưởng GDP thuộc hàng nhanh trên thế giới. Cải thiện nền kinh tế và mức sống tốt hơn, gia tăng toàn cầu hóa và áp lực từ các lĩnh vực định hướng xuất khẩu đã thúc đẩy các doanh nghiệp áp dụng thực hành TNXH nhiều hơn. Các hoạt động TNXH cũng được tăng cường thông qua việc thành lập thị trường chứng khoán, sự tăng trưởng nhanh chóng dẫn đến nhu cầu về tính minh bạch cao hơn4. Các doanh nghiệp ngày càng gia tăng áp lực để tránh hành vi thiếu TNXH và có thêm động lực để tự nguyện công khai các hoạt động TNXH.
Mặc dù thông tin về TNXH do các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam công bố còn ở mức thấp, nhưng các sở giao dịch chứng khoán đang khuyến khích và thúc đẩy các doanh nghiệp niêm yết minh bạch hơn, đặc biệt là công bố thông tin về TNXH.5 Việc thực hiện TNXH cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Việt Nam chủ yếu theo Nho giáo. Đạo đức, các mối quan hệ xã hội lành mạnh, sự chân thành và công bằng là những trụ cột của triết học Nho giáo. Sự lãnh đạo của Nho giáo có liên quan chặt chẽ đến TNXH vì mục đích của nó là mang lại hòa bình, kiến thức và phát triển kinh tế cho cả sự phát triển của tổ chức và phúc lợi của cộng đồng (Low và Ang, 2012). Bên cạnh Nho giáo, các doanh nghiệp ở Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, những đất nước coi trọng việc thực hiện TNXH (Matten và Moon, 2008).
Do đó, các cam kết về TNXH đã trở nên quan trọng đối với các doanh nghiệp và người dân Việt Nam. Những đặc điểm văn hóa dân tộc này giải thích phần nào thái độ của khách hàng và nhà quản lý đối với TNXH.