Luận án tiến sĩ: Mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành VTB, GDP và dân số Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành VTB với GDP và dân số Việt Nam, đóng góp giá trị cho nghiên cứu kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2023

204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.2. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1. Về mối quan hệ giữa lao động và GDP, dân số

1.2.2. Về mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành VTB với các yếu tố kinh tế xã hội

1.3. Nghiên cứu ở trong nước

1.3.1. Về mối quan hệ giữa lao động và các chỉ tiêu kinh tế, dân số

1.3.2. Về mối quan hệ giữa lao động ngành VTB với các chỉ tiêu kinh tế xã hội

1.3.3. Các nghiên cứu kinh tế trong nước có liên quan đến mô hình kinh tế lượng

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

1.5. Kết luận chương 1

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GDP, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VTB VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH TOÁN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ ĐÓ

2.1. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

2.2.1. Phát triển kinh tế ảnh hưởng đến dân số và lao động

2.2.2. Ảnh hưởng của dân số tới VTB

2.2.3. Dân số và ảnh hưởng của dân số tới phát triển kinh tế xã hội

2.2.4. Các tác nhân dân số ảnh hưởng tới VTB

2.3. Hoạt động VTB và lao động ngành VTB

2.3.1. Hoạt động VTB và vai trò của hoạt động VTB

2.3.2. Lao động vận tải biển

2.3.3. Ảnh hưởng của GDP, dân số tới lao động ngành VTB

2.4. Lý thuyết mô hình lượng hóa và mối quan hệ của các yếu tố

2.4.1. Lý thuyết mô hình lượng hóa

2.4.2. Mối quan hệ giữa lao động ngành VTB với GDP, dân số

2.5. Kết luận chương 2

3. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG ẢNH HƯỞNG GDP VÀ DÂN SỐ TỚI LAO ĐỘNG NGÀNH VTB VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2020

3.1. Thực trạng tăng trưởng GDP Việt Nam

3.1.1. Tăng trưởng GDP tại Việt Nam từ 1990 đến 2020

3.1.2. Cơ cấu kinh tế tại Việt Nam

3.1.3. Ảnh hưởng của tăng trưởng GDP đến xuất nhập khẩu hàng hóa qua cảng biển tại Việt Nam

3.2. Thực trạng dân số tại Việt Nam

3.2.1. Sự tăng trưởng dân số Việt Nam

3.2.2. Cơ cấu dân số

3.3. Đặc điểm lao động và cơ cấu lao động tại Việt Nam

3.4. Đánh giá thực trạng lao động ngành VTB Việt Nam

3.4.1. Đặc trưng lao động ngành VTB Việt Nam

3.4.2. Sự phát triển lao động ngành VTB Việt Nam

3.4.3. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến lực lượng lao động ngành VTB Việt Nam

3.5. Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của GDP và dân số đến lao động ngành VTB Việt Nam

3.5.1. Ảnh hưởng của GDP với lực lượng lao động ngành VTB Việt Nam

3.5.2. Ảnh hưởng của tăng trưởng dân số với lực lượng lao động ngành VTB Việt Nam

3.5.3. Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của GDP và dân số đến lao động ngành Việt Nam bằng mô hình VAR

3.6. Kết luận chương 3

4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LAO ĐỘNG NGÀNH VTB TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI GDP VÀ DÂN SỐ VIỆT NAM

4.1. Các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, dân số của Việt Nam

4.1.1. Mục tiêu chiến lược tăng trưởng kinh tế

4.1.2. Mục tiêu dân số và lao động

4.1.3. Mục tiêu phát triển VTB

4.2. Một số giải pháp phát triển lao động ngành VTB trong mối quan hệ GDP và dân số Việt Nam

4.2.1. Giải pháp tăng trưởng GDP nhằm tác động phát triển lao động ngành VTB

4.2.2. Giải pháp phát triển dân số nhằm tác động phát triển lực lượng lao động ngành VTB

4.2.3. Giải pháp phát triển lao động ngành VTB trong mối quan hệ với GDP và dân số

4.2.4. Giải pháp tuyên truyền hỗ trợ

4.3. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa lao động ngành VTB, GDP Việt Nam, và dân số Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến mối quan hệ giữa lao động và các chỉ tiêu kinh tế, nhưng chưa có nghiên cứu nào phân tích sâu về ngành VTB trong bối cảnh kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố này.

1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếdân số, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp dịch vụ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các nền kinh tế phát triển, chưa có nhiều nghiên cứu về các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

1.2. Nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước đã phân tích mối quan hệ giữa lao độngGDP, nhưng chưa có nghiên cứu nào tập trung vào ngành VTB. Nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm góc nhìn về mối quan hệ giữa lao động ngành VTB và các yếu tố kinh tế vĩ mô.

II. Cơ sở lý luận về GDP dân số và lao động ngành VTB

Nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế, chỉ số GDP, và dân số. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với lao động ngành VTB. Phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường lao động, đặc biệt là trong các ngành dịch vụ như VTB.

2.1. Tăng trưởng kinh tế và GDP

Tăng trưởng kinh tế được đo lường thông qua chỉ số GDP, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lao động ngành VTB. Khi GDP tăng, nhu cầu về dịch vụ vận tải biển cũng tăng theo, dẫn đến nhu cầu về lao động trong ngành này.

2.2. Dân số và lao động

Dân số Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lao động cho ngành VTB. Sự gia tăng dân số trong độ tuổi lao động có thể tác động tích cực đến lực lượng lao động trong ngành này.

III. Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của GDP và dân số đến lao động ngành VTB

Nghiên cứu đánh giá thực trạng tăng trưởng GDPdân số tại Việt Nam từ năm 1990 đến 2020. Kết quả cho thấy GDPdân số có mối quan hệ chặt chẽ với lao động ngành VTB. Sự tăng trưởng GDP đã thúc đẩy nhu cầu về dịch vụ vận tải biển, trong khi dân số trong độ tuổi lao động cung cấp nguồn nhân lực cho ngành này.

3.1. Tăng trưởng GDP và lao động ngành VTB

GDP tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 1990-2020 đã kéo theo sự gia tăng nhu cầu về lao động ngành VTB. Điều này thể hiện rõ qua sự phát triển của hệ thống cảng biển và đội tàu vận tải biển tại Việt Nam.

3.2. Dân số và lao động ngành VTB

Dân số Việt Nam trong độ tuổi lao động đã cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho ngành VTB. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lao động trong ngành này đang có xu hướng chậm lại, đòi hỏi các giải pháp phù hợp để duy trì nguồn nhân lực.

IV. Đề xuất giải pháp phát triển lao động ngành VTB

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển lao động ngành VTB trong mối quan hệ với GDPdân số. Các giải pháp bao gồm tăng cường đầu tư vào phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng đào tạo lao động, và tăng cường chính sách hỗ trợ cho ngành VTB.

4.1. Giải pháp tăng trưởng GDP

Để thúc đẩy lao động ngành VTB, cần tập trung vào các chính sách nhằm tăng trưởng GDP, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến vận tải biểnxuất nhập khẩu.

4.2. Giải pháp phát triển dân số

Các chính sách nhằm duy trì và phát triển dân số trong độ tuổi lao động sẽ giúp đảm bảo nguồn nhân lực cho ngành VTB. Điều này bao gồm các chính sách hỗ trợ giáo dục và đào tạo nghề.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành vtb với gdp và dân số việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Về mối quan hệ giữa lao động và GDP, dân số Nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố trong một nền kinh tế là hoạt động đã diễn ra từ thế kỷ thứ XVII trên thế giới, nhằm tìm hiểu các khía cạnh tác động qua lại của các yếu tố với sự GDP, GDP bình quân, từ đó chỉ xây dựng các biện pháp thúc đẩy phục vụ sự tăng trưởng của GDP, GDP bình quân.

Trong một nghiên cứu khoa học về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và dân số được công bố của Viện Martin Prosperity - Đại học Toronto đã tổng hợp dữ liệu về dân số và tốc độ tăng trưởng GDP ở tất cả các khu vực đô thị của Hoa Kỳ từ năm 2001 đến 2011. Trong nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng dân số và sự thành công của tăng trưởng kinh tế. Khi dân số tăng lên, nền kinh tế và thuế cũng sẽ tăng trưởng. Ngoài ra, người ta tin rằng sự gia tăng GDP khuyến khích sự xuất hiện của những người định cư khác.

Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy không có mối tương quan trực tiếp giữa tăng trưởng dân số và GDP ở đô thị của Mỹ. [61] Cũng trong một nghiên cứu khoa học khác về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và dân số của Viện Nghiên cứu Kinh tế Chính trị Sheffield (SPERI) – Vương quốc Anh năm 2014 đã chỉ ra rằng trong quá trình 200 năm phát triển của nền kinh tế tây Âu có sự gắn kết chặt chẽ của gia tăng dân số. Tuy nhiên khi dân số tăng nhanh hơn GDP sẽ trở thành gánh nặng của sự tăng trưởng kinh tế do GDP bình quân đầu người giảm xuống ảnh hưởng xấu tới đời sống xã hội. Mặt khác, khi nền kinh tế tăng trưởng lại cần dân số tăng từ đó dẫn đến tăng nguồn cung lao động và tăng số lượng người tiêu dùng.

[62] Một nghiên cứu khoa học “Thay đổi nhân khẩu học và tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng thực nghiệm từ Châu Á” của Sijia Song, Đại học Đông 10 i Illinois đã phân tích thực nghiệm tác động của các khía cạnh khác nhau của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người.[76] Với mục đích này, dữ liệu chung từ một mẫu của bốn mươi ba nền kinh tế đang phát triển đã được sử dụng. Trong số các kết quả của nghiên cứu nổi bật lên, một là “ảnh hưởng của tăng trưởng dân số đối với tăng trưởng GDP bình quân đầu người là tuyến tính và trong mọi trường hợp là tiêu cực”; hai là “không có tác động thống kê đáng kể nào đối với tăng trưởng kinh tế khi cả tỷ lệ phụ thuộc của thanh niên và người cao tuổi đều được đưa vào mô hình”. Theo giáo sư kinh tế Thomas Piketty người Pháp sự tăng lên của GDP bình quân đầu người sẽ làm phúc lợi kinh tế tăng theo. Mặt khác, nếu tăng trưởng dân số ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người thì tại các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao sẽ làm tăng GDP bình quân đầu người, điều này chưa chắc đã đúng mà còn phải phụ thuộc vào bản chất tác động lên GDP bình quân đầu người [54, Tr36-37].

Xét trên góc độ toàn thế giới giai đoạn 1995 – 2018, dựa vào số liệu được thống kê bởi ngân hàng thế giới WB cho thấy hai biến này không tương quan với nhau, trong khi biến dân số tăng nhanh một cách đều đặn thì biến tổng GDP lại tăng trưởng chậm làm cho biến GDP bình quân có hiện tượng suy giảm. Điều đương nhiên vấn đề ở đây là xét hai biến độc lập và trên góc độ vĩ mô và nếu xem xét vấn đề ngược lại thì rõ ràng tăng trưởng kinh tế có tác động tới tăng trưởng dân số. Thomas Malthus (1766 – 1834) nhà kinh tế học người Anh đã viết: “Nếu mọi người sinh sản với mức tối đa, sản xuất lương thực và nông nghiệp sẽ không theo kịp, dẫn đến tình trạng chết đói hàng loạt. Nhưng khi dân số tăng lên, các công nghệ hiện đại sẽ ra đời hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực thực phẩm và các nhu cầu cơ bản khác”.

11 i Về cơ bản, lý thuyết của Thomas Malthus đã được chứng minh trong hơn 200 năm chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đến nay, trước khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra tại Anh, tăng trưởng dân số trung bình ở Anh là khoảng 0,29% trong khi GDP bình quân đầu người tăng trưởng 0,12%, GDP tăng 0,41%.[46] Cần lưu ý trong giai đoạn này yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào sức lao động thủ công của con người, chưa có sự hỗ trợ của máy móc công nghệ. Khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, cả GDP bình quân lẫn dân số tăng nhanh cùng với các nguồn cung cấp lương thực. Tăng trưởng sản lượng lương thực toàn cầu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng dân số của cả 2 thế kỷ trước đó, GDP bình quân đầu người ở Anh tăng gấp 11 lần trước cách mạng công nghiệp trong khi lượng lao động thực tế huy động vào sản xuất không tăng cho dù dân số tăng. Như vậy trong trường hợp này, sự đổi mới công nghệ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng dân số.

Nghiên cứu khoa học của Tổ chức Lao động quốc tế - ILO năm 2019 được công bố trên website của mình về “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới” do Stefan Kühn, Santo Milasi, Damian Grimshaw thực hiện nghiên cứu để chỉ ra xu hướng lao động năm 2019 đã thực hiện việc phân tích tổng quan tất cả các yếu tố liên quan đến lao động thế giới bao gồm số lượng, trình độ, giới tính, thu nhập, năng suất cùng với sự tăng trưởng kinh tế thế giới mà chỉ số kinh tế được sử dụng chính là GDP. [15][63] Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thống kê, cho thấy GDP toàn cầu có sự tăng trưởng đều đặn qua các năm, lượng lao động mặc dù phân bổ không đều khi phân theo giới tính, và tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ. Tuy nhiên khi đánh giá về tăng trưởng kinh tế, dân số và lao động theo từng khu vực địa lý thì kết quả nghiên cứu thống kê cho thấy tại những khu vực kinh tế tăng trưởng chậm, đời sống nghèo nàn thì có tỷ lệ tăng dân số cao, trình độ lao 12 i động lạc hậu, năng suất lao động, thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao. Tại khu vực châu Á - Thái bình dương, quy mô nền kinh tế có xu hướng sẽ mở rộng mặc dù tăng trưởng kinh tế giảm tốc, khu vực Đông Nam Á có mức giảm tốc kinh tế lớn nhất.

Dân số khu vực này tiếp tục có sự tăng trưởng đều đặn, lao động nông nghiệp giảm xuống, lao động trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên, các chỉ số xấu về lao động đều ở mức cao như thất nghiệp, cân bằng giới tính hay thu nhập… Tóm lại nghiên cứu đã chỉ ra mức độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực Đông Nam Á còn thấp, chưa phù hợp với lượng tài nguyên lao động sẵn có, trình độ lao động thấp, thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, khoảng cách phân biệt giới trong lao động lớn, vì vậy cần có những chính sách tăng trưởng kinh tế và lao động phù hợp. Về mối quan hệ giữa lực lượng lao động ngành VTB với các yếu tố kinh tế xã hội Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Alexandra Fratila (Adam), Ioana Andrada Gavril, Sorin Cristian Nita và Andrei Hrebenciuc thuộc trường đại học Nghiên cứu Kinh tế Bucharest với nhan đề “Tầm quan trọng của Vận tải Hàng hải đối với Tăng trưởng Kinh tế trong Liên minh châu Âu: Phân tích dữ liệu chủ đạo” tháng 7 năm 2021 đã phân tích và chỉ ra được mối quan hệ quan trọng giữa tăng trưởng vận tải biển với tăng trưởng kinh tế của 20 nước Châu Âu bằng mô hình hồi quy. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vận tải biển tăng trưởng 10% sẽ làm cho GDP bình quân tăng bình quân 1,591% [56]. Nhóm nghiên cứu chưa chỉ ra được yếu tố lao động vận tải biển đóng góp cho sự phát triển của vận tải biển và cũng chưa chỉ ra điều ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tới vận tải biển như thế nào.

Trong nghiên cứu Chính sách Hàng hải Nhật Bản của Keiji Habara, đại học Kobe năm 2017 đã chỉ ra ngành hàng hải Nhật Bản được xây dựng dựa trên mối quan hệ của 3 nhóm: Chủ tàu và người vận chuyển, công ty đóng 13 i tàu, và chủ hàng. Đây được cho là mối quan hệ khép kín khi các công ty đóng tàu cung cấp phương tiện vận tải cho chủ tàu phục vụ hoạt động VTB trong và ngoài nước [59]. Các chủ hàng Nhật Bản trong đó phần lớn là các công ty điện tử đặt hàng đối với các chủ tàu Nhật Bản với các đơn hàng vận chuyển nguyên liệu từ nước ngoài vào Nhật và thành phẩm từ Nhật Bản đi nước ngoài. Chính sự khép kín của quá trình này đã giúp cho ngành Hàng hải Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XX.

Thông qua mối quan hệ chặt chẽ của các nhóm chủ đạo trong nước đã thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải, giúp lượng hàng hóa vận chuyển hầu hết do đội tàu quốc gia hoặc các tàu treo cờ Nhật thúc đẩy thị phần VTB tăng lên. Để có kết quả như vậy do một số nguyên nhân chính: sự khép kín của 3 nhóm trực tiếp liên quan đến VTB, năng lực kinh tế quốc nội Nhật Bản, có những đồng minh lớn trong đó đặc biệt là Mỹ. Tuy nhiên do sự thiếu hụt lao động chung của quốc gia nên ngoài việc thuê lao động nước ngoài thì hoạt động áp dụng khoa học kỹ thuật cao vào ngành hàng hải rất được quan tâm, nhờ đó làm giảm lượng lao động trong ngành VTB như đóng và sửa chữa tàu, cảng biển, thủy thủ. Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thống kê và nghiên cứu lịch sử.

Giải thích sự thành công trong ngành hàng hải của Nhật Bản, trong nghiên cứu: “Chiến lược hàng hải của Nhật Bản: Nếu không phải cường quốc thì ai?” của Toshi Yoshihara và James R.S Naval War College (USNWC) cũng đã nghiên cứu và chỉ ra sự phụ thuộc của Nhật Bản vào Mỹ trong bảo đảm an toàn Hàng Hải thế kỷ XX.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ