Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, hạn chế đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. 123doc 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Vấn đề chi phí đại diện gây ra bởi việc tách quyền sở hữu và quyền kiểm soát trong những doanh nghiệp lớn (Berle, 1933). Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng chi phí đại diện xảy ra do mâu thuẫn về lợi ích của các nhà quản lý và chủ sở hữu.
Những nhà quản trị sở hữu ít hơn 100% dòng tiền thặng dư của công ty có tiềm năng xung đột lợi ích với cổ đông bên ngoài vì họ chọn tái đầu tư dòng tiền thặng dư hơn chi trả cho nhà đầu tư (Jensen, 1976, 1986). Sự xung đột phát sinh khi có rủi ro đạo đức bên trong công ty, được gọi là chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu. Vấn đề chi phí đại diện này có thể được giải quyết bằng cách tăng quyền sở hữu của những nhà quản lý bởi vì quyền sở hữu quản lý cao gắn lợi ích quản lý và các cổ đông (Jensen, 1976). Các khả năng khác bao gồm giám sát quản lý của các cổ đông lớn (Shleifer, 1986), và việc sử dụng tài trợ của nợ cho các nhà quản lý kỷ luật (Jensen, 1986; Stulz, 1990).1 Mức độ sở hữu nhà quản trị và chi phí đại diện: Những xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý và cổ đông chủ yếu phát sinh từ sự tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát.
Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát trong các công ty hiện nay tạo thành điểm khởi đầu cho một lượng lớn các bài nghiên cứu điều tra mức độ tác động của cấu trúc sở hữu vào chi phí đại diện và hoạt động doanh nghiệp. Ý tưởng về sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát trở thành các công trình chuyên đề của Smith (1976) và Berle và Means (1933). Hai nghiên cứu này chứng minh rằng khi 123doc 7 tách biệt quyền sở hữu và quyền kiểm soát, sẽ có những xung đột lợi ích giữa các nhà quản lý và các cổ đông. Quan trọng là công ty sau đó là tìm cách để loại bỏ những xung đột tức là để tìm cơ chế quản trị doanh nghiệp hiệu quả.
Theo Jensen và Meckling (1976) thì mức độ gia tăng sở hữu của nhà quản trị có thể sắp xếp các lợi ích giữa các nhóm do đó làm giảm chi phí đại diện. Theo mô hình của họ, mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà quản trị và chi phí đại diện là tuyến tính và điểm tối ưu cho các công ty có thể đạt được khi các nhà quản lý mua lại toàn bộ cổ phần của công ty. Ngược lại, Morck et al (1988) tranh luận rằng mức độ sở hữu cao của nhà quản trị có để dẫn đến sự bảo thủ mà những cổ đông bên ngoài khó tìm thấy. Kole (1995) cho rằng quyền sở hữu quản lý có thể ảnh hưởng khác nhau phụ thuộc vào công ty lớn nhỏ.
Trong khi, Ang và cộng sự (2000) xem xét mối quan hệ giữa chi phí đại diện và quyền sở hữu nhà quản trị cho các công ty nhỏ, thì Singh cộng sự đã thử nghiệm cùng một công việc về mối quan hệ đối với các doanh nghiệp lớn. Bênh cạnh đó, nghiên cứu của Kazuo Ogawa và Hirokuni Uchiyamna thuộc Viện nghiên cứu Kinh tế Xã hội Đại học Osaka (Nhật Bản) cho thấy ở các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty cổ phần quy mô nhỏ, các quyết định đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào chi phí đại diện, trong khi chi phí đại diện cao hay thấp hoàn toàn không phụ thuộc vào quy mô của công ty là lớn hay nhỏ. Mặc dù, sự giám sát của cổ đông lớn có thể làm giảm chi phí đại diện nhưng nó cũng có thể gây hại cho công ty bằng cách làm gia tăng sự xung đột giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Khi cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát công ty, họ sẽ thực hiện các giao dịch gây hại cho cổ đông nhỏ (Shleifer and Vishny, 1997).
Trường hợp này sẽ thêm trầm trọng khi luật pháp không đủ hiệu quả để bảo vệ cổ đông thiểu số (Grossman và Hart, 1985) 123doc 8 2.2 Mức độ tập trung vốn sở hữu và chi phí đại diện. Một vấn đề quan trọng để làm giảm chi phí đại diện liên quan đến vấn đề tập trung vốn chủ sở hữu. Những cổ đông có cổ phần đáng kể có động lực để theo dõi quản lý, giám sát do đó, bảo vệ thành quả đầu tư của họ. Tuy nhiên, do những lợi ích giám sát đối với các cổ đông tương ứng với phần vốn góp (Grossman and Hart, 1988), các cổ đông có mức sở hữu trung bình hoặc thấp không có biện pháp khuyến khích để phát huy hành vi giám sát.
Stiglitz (1985) đã lập luận rằng một trong những cách quan trọng nhất để tối đa hóa giá trị của các công ty là thông qua sở hữu cổ phần tập trung của công ty. Shome và Singh (1995) nhân rộng kết quả này và cung cấp bằng chứng cho thấy sự hiện diện của cổ đông lớn cải thiện hoạt động về kế toán. Cổ đông lớn như vậy, giải quyết các vấn đề đại diện như cả hai đều có lợi ích chung trong tối đa hóa lợi nhuận, và đủ kiểm soát tài sản của công ty để lợi ích của họ được tôn trọng. Bryan và cộng sự (2005) cho rằng việc giám sát của các cổ đông bên ngoài sẽ hạn chế việc sử dụng chi phí quá mức và đảm bảo rằng tổ chức sẽ sử dụng tài sản hiệu quả hơn.
Mặc dù các cổ đông lớn có thể giúp làm giảm chi phí đại diện kết hợp với các nhà quản lý, tuy nhiên, điều này cũng có thể làm tổn hại đến công ty bởi các xung đột gây ra thiệt hại lớn cho cổ đông thiểu số. Các cổ đông kiểm soát thường có thể tiếp cận thông tin tốt hơn, giữ nhiều quyền lực hơn trong việc lựa chọn quản lý và tham gia vào chính quyết định tạo ra (Shleifer và Vishny, 1997). Những cổ đông kiểm soát tác động đến lợi ích của các cổ đông nhỏ bằng cách không phân chia cổ tức và các dòng lợi nhuận. Ang (1999) cung cấp bằng chứng về cơ cấu sở hữu của công ty và chi phí đại diện xét về mặt sử dụng tài sản và chi phí hoạt động.
Ang sử dụng dữ 123doc 9 liệu của các công ty nhỏ tại Mỹ để kiểm tra chi phí đại diện thay đổi như thế nào với cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp. Tác giả nhận thấy chi phí đại diện: Tăng khi người ngoài quản lý công ty so với người trong công ty; Tương quan nghịch với cổ phần sở hữu của người quản lý nghĩa là khi mức độ sở hữu của người quản lý tăng sẽ có tác dụng làm giảm chi phí đại diện; Với mức độ tác động thấp hơn, chi phí đại diện sẽ giảm với sự giám sát lớn hơn của các ngân hàng; Tương quan cùng chiều với số lượng cổ đông không phải là những nhà quản lý; Trong bài nghiên cứu thứ 2, Singh and Davidson (2003) mở rộng công việc của Ang và cộng sự (1999) thông qua phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp và chi phí đại diện đối với các tập đoàn lớn. Sử dụng phương thức khác để đo lường chi phi đại diện (sử dụng chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trên Tổng doanh thu - SG&A thay vì chi phí hoạt động đo lường chi phí đại diện - OETS), họ đã phân tích dữ liệu nhiều kỳ cho các năm 1992-1994, và bài nghiên cứu cho thấy không chỉ cấu trúc sở hữu như là yếu tố quyết định chi phí đại diện, mà còn vai trò của cổ đông lớn bên ngoài trong việc gia tăng kỷ luật của những nhà quản lý. Họ tìm thấy sở hữu những cổ đông lớn bên ngoài chỉ có tác dụng hạn chế vào việc giảm chi phí đại diện và số lượng thành viên Hội đồng quản trị thì nghịch chiều với doanh thu và không liên quan với chi phí tự do.3 Số lượng thành viên Hội đồng quản trị (Board) và chi phí đại diện Theo Pearce và Zahra (1991), Hội đồng quản trị lớn có quyền lực mạnh hơn và hiệu quả hơn Hội đồng quản trị nhỏ.
Hội đồng quản trị lớn sẽ có sự cung cấp các tư vấn tốt hơn trong quá trình quản lý ra quyết định và cải thiện 123doc 10 hình ảnh công ty. Singh và Davidson III (2003) ủng hộ vấn đề đó với kết quả thực nghiệm cho kết quả Hội đồng quản trị lớn có tương quan cùng chiều và ý nghĩa thống kê với biến đo lường chi phí đại diện Tỷ lệ doanh thu trên tổng tài sản (Asset Turnover). Nghĩa là khi Hội đồng quản trị lớn thì Tỷ lệ doanh thu trên tài sản sẽ tăng. Điều này có ý nghĩa công ty đang hoạt động hiệu quả làm giảm chi phí đại diện.
Tuy nhiên, Beiner, Drobetz, Schmid và Zimmermann (2004) và Eisenberg, Sundgren, Wells (1998) cho rằng Hội đồng quản trị nhỏ hiệu quả hơn Hội đồng quản trị lớn do việc giao tiếp và phối hợp. Florackis và Ozkan (2004) đã nghiên cứu thực nghiệm các công ty của Vương quốc Anh giai đoạn 1999 – 2003 cho thấy Hội đồng quản trị tương quan ngược chiều với chi phí đại diện.4 Đòn cân nợ và chi phí đại diện Lý thuyết đại diện trở nên phức tạp hơn khi lợi ích của chủ nợ được xem xét đến. Giống như một chiến lược tài chính, nợ thì được quan tâm nhiều hơn trong các bài nghiên cứu về cấu trúc vốn. Modigliani và Miller (1963) chứng minh rằng để gia tăng giá trị công ty, thì tổng nợ vay nên càng nhiều càng tốt vì được ưu đãi về thuế.
Tuy nhiên, lý thuyết của họ lại bỏ qua chi phí đại diện của nợ. Về mặt lý thuyết, Jensen và Meckling (1976) chỉ ra rằng tận dụng tối ưu của việc vay nợ là khi nợ được sử dụng đến một điểm tại đó lợi ích biên của ưu đãi thuế bằng với tác dụng biên của chi phí đại diện. Nói chung, chi phí đại diện liên quan với nợ bao gồm khả năng phá sản, nó được gây ra bởi tác động của vay nợ trong các quyết định đầu tư của công ty, chi phí phá sản, chi phí giám sát và chi phí ràng buộc (Jensen và Meckling, 1976). Cổ đông thì yêu cầu khoản thặng dư đối với dòng tiền.