MỞ ĐẦU Những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học công nghệ về tìm kiếm vật liệu mới và năng lƣợng mới đang rất đƣợc quan tâm và diễn ra sôi nổi trên toàn thế giới. Hiện nay việc nghiên cứu vật liệu mới để tìm ra các loại vật liệu tốt hơn, rẻ hơn thay thế cho các vật liệu truyền thống đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết. Nghiên cứu vật liệu mới còn nhằm mục đích chế tạo ra những vật liệu có tính chất khác biệt, tốt hơn nhiều so với vật liệu đã biết trong tự nhiên, có tiềm năng ứng dụng to lớn. Khoảng từ năm 2000 trở về đây, siêu vật liệu (metamaterials) nổi lên nhƣ một lĩnh vực rất tiềm năng trong nghiên cứu vật liệu mới.
Hiện nay có rất nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau về siêu vật liệu. Trong đó, một hƣớng nghiên cứu chính về siêu vật liệu đƣợc các nhà khoa học rất quan tâm đó là siêu vật liệu có chiết suất âm. Siêu vật liệu có chiết suất âm là sự kết hợp của vật liệu đồng thời có độ từ thẩm âm (μ< 0) và độ điện thẩm âm (ε< 0) trên cùng một dải tần số. Vật liệu này sở hữu nhiều tính chất bất thƣờng nhƣ sự nghịch đảo của định luật Snell, sự nghịch đảo trong dịch chuyển Dopler, sự nghịch đảo của bức xạ Cherenkov, đặc biệt là ba vector của sóng điện từ: E , H , k tuân theo quy tắc tam diện nghịch.
Nhờ vào những tính chất đặc biệt kể trên, vật liệu này hứa hẹn rất nhiều ứng dụng mang tính đột phá trong thực tế nhƣ: Thiết bị khoa học; pin năng lƣợng; y tế; đặc biệt là lĩnh vực quân sự. Ứng dụng nổi bật nhất của vật liệu này là “siêu thấu kính” đã đƣợc chế tạo thành công năm 2005[1]. Một loạt các ứng dụng quan trọng khác của siêu vật liệu cũng đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhƣ: “áo choàng” để che chắn sóng điện từ (electromagnetic cloaking); bộ cộng hƣởng cảm biến; bộ lọc tần số; bộ cộng hƣởng; sensor. Siêu vật liệu nói chung hoạt động dựa trên tính chất cộng hƣởng từ và cộng hƣởng điện từ khi tƣơng tác với các thành phần điện trƣờng E và từ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng H của sóng điện từ chiếu đến.
Tuy nhiên, các cấu trúc siêu vật liệu đã biết có tính chất cộng hƣởng thƣờng xảy ra trong vùng tần số hẹp và phụ thuộc vào phân cực của sóng điện từ. Do đó, để đƣa siêu vật liệu vào ứng dụng thực tế cần phải nghiên cứu giải quyết một số vấn đề sau: tìm kiếm vật liệu có cấu trúc đơn giản, có dải tần số hoạt động rộng, không phụ thuộc phân cực sóng điện từ, dễ dàng trong việc chế tạo và triển khai ứng dụng.Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung vào hƣớng nghiên cứu việc mở rộng vùng tần số có chiết suất âm của siêu vật liệu thông qua việc nghiên cứu cấu trúc lƣới đĩa đa lớp, bằng kết hợp cả thực nghiệm, mô phỏng và tính toán. Đồng thời tìm ảnh hƣởng của tổn hao các điện môi, ảnh hƣởng của từng lớp cấu trúc khi sử dụng nhiều lớp cấu trúc trong việc mở rộng vùng tần số có chiết suất âm ở các vùng tần số khác nhau (đặc biệt là vùng quang học). Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về siêu vật liệu Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ SIÊU VẬT LIỆU 1. Giới thiệu chung về siêu vật liệu Với sự phát triển vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật trong thời gian gần đây, con ngƣời đã tạo ra những vật liệu nhân tạo, mà ở đó, các nguyên tử đƣợc sắp xếp một cách có chủ ý để có thể điều khiển các tính chất điện, từ và quang học của vật liệu. Loại vật liệu nhân tạo này đƣợc đặt tên là “Metamaterial-Meta” hay “siêu vật liệu”. Siêu vật liệu có thể có những tính chất giống nhƣ các loại vật liệu đã biết hay xuất hiện những tính chất hoàn toàn mới chƣa từng đƣợc quan sát trong tự nhiên.
Đây không chỉ là cầu nối cho những hiểu biết hiện tại giữa nguyên tử và vật lý chất rắn mà còn hứa hẹn là một nguồn vật liệu mới với những tính chất đặc thù không tồn tại trong vật liệu tự nhiên [2]. Từ đó đã thay đổi quan niệm trƣớc đây cho rằng: các tính chất vật lý của vật liệu đƣợc quyết định bởi tính chất của các nguyên tử và cấu trúc mạng tinh thể của vật liệu, những tính chất đƣợc mặc định và không thể thay đổi đƣợc. Siêu vật liệu đƣợc hình thành từ rất nhiều các thành phần riêng biệt với những hình thái đặc trƣng kết hợp với nhau để tạo nên các “giả nguyên tử” (meta-atom) quyết định tính chất chung của cả khối vật liệu. Các nguyên tử siêu vật liệu đƣợc đặt trong các ô cơ sở có kích thƣớc nhỏ hơn rất nhiều lần bƣớc sóng hoạt động [3].
Trong một môi trƣờng tổng hợp nhƣ vậy, sóng điện từ khi đƣợc chiếu đến vật liệu sẽ tƣơng tác với từng thành phần vi mô cấu thành, tạo ra các mô men cảm ứng điện từ và từ đó trực tiếp ảnh hƣởng đến độ điện thẩm và độ từ thẩm ở cấp độ vĩ mô của cả siêu vật liệu. Bằng việc sắp xếp vị trí và thay đổi độc lập các tham số của các thành phần cấu thành vật liệu, ta có thể tùy ý điều khiển tính chất điện từ của siêu vật liệu và tạo ra những hiện tƣợng thú vị chƣa từng có trong tự nhiên nhƣ tính chiết suất âm [4], nghịch đảo định luật Snell [5], nghịch đảo định luật Dopler [6]…. Sự tƣơng quan giữa cấu trúc của vật liệu truyền thống và siêu vật liệu đƣợc thể hiện trong hình 1. Theo đó, siêu vật liệu về cơ bản có cấu trúc tƣơng tự 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣ vật liệu truyền thống, tuy nhiên, các “nguyên tử” siêu vật liệu (thƣờng đƣợc mô hình hóa bằng mạch dao động riêng LC) có thể đƣợc điều biến, sắp xếp lại trật tự một cách có chủ đích để tạo ra những tính chất mới, không có sẵn trong vật liệu truyền thống [7,8].
Sự tương quan giữa cấu trúc của vật liệu truyền thống và siêu vật liệu. Siêu vật liệu là sự sắp xếp một cách có chủ ý của các thành phần riêng biệt trong không gian, về bản chất, siêu vật liệu không phải là vật liệu đồng nhất ở cấp độ vi mô. Tuy nhiên, kích thƣớc của các thành phần tạo thành này cũng nhƣ khoảng cách giữa chúng là rất nhỏ so với vùng bƣớc sóng hoạt động. Dựa vào lý thuyết môi trƣờng hiệu dụng (Effective medium theory – EMT), ta có thể coi siêu vật liệu nhƣ một khối đồng nhất với các thông số điện thẩm và từ thẩm hiệu dụng đặc trƣng cho toàn khối.
Việc coi siêu vật liệu là các thành phần riêng lẻ hay một khối đồng nhất thực chất là hai mặt của cùng một vấn đề đƣợc liên kết với nhau bởi thuật toán truy hồi (retrieval 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong nghiên cứu siêu vật liệu, ta giả thiết rằng tƣơng tác của môi trƣờng không đồng nhất với sóng điện từ có thể đƣợc mô tả chỉ bằng hai thông số dạng phức ε và μ. Giả thiết này dựa trên thực tế rằng kích thƣớc của các thành phần cấu thành vật liệu nhỏ hơn rất nhiều so với bƣớc sóng hoạt động, từ đó tƣơng tác của sóng tới với môi trƣờng truyền đƣợc tính bằng trung bình của các thành phần tạo thành trong không gian. Tính trung bình đƣợc chia thành hai cấp.
Ở cấp thứ nhất, các ô cơ sở của vật liệu là tƣơng đối lớn so với kích thƣớc các phân tử, do vậy ta có hệ phƣơng trình Maxwell đối với từng vật liệu thành phần: 1 B E , (1.4) trong đó, D 0 r E và B 0 r H với r và r là thông số của các vật liệu thành phần. Tuy nhiên, ở cấp độ thứ hai, kích thƣớc các ô cơ sở là rất nhỏ so với kích thƣớc mà ở đó trƣờng điện từ biến thiên do tác động của các dòng cảm ứng điện từ trong cấu trúc đóng góp gây nên sự phân cực. Hay nói cách khác, không tồn tại một cấu trúc rõ ràng của sự phân bố các hạt mang điện hay các dòng trên cả vật liệu mà chỉ có thể lấy giá trị trung bình của một số trƣờng lƣỡng cực (hay đôi khi là các trƣờng tứ cực) tƣơng ứng. Do vậy ta có các giá trị trƣờng trung bình: D 0 eff E (1.6) thể hiện các giá trị điện thẩm và từ thẩm hiệu dụng của siêu vật liệu.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các giá trị hiệu dụng này đƣợc tính toán dựa trên mô hình môi trƣờng hiệu dụng Maxwell-Garnett. Theo đó, độ điện thẩm hiệu dụng eff của môi trƣờng gồm: m môi trƣờng hình cầu có độ điện thẩm của từng môi trƣờng là i đƣợc bao quanh bởi môi trƣờng khác có độ điện thẩm m có thể đƣợc xác định từ điều kiện [9]: eff m (1. (2 fi ) m (1 fi ) i Tuy nhiên, giới hạn bƣớc sóng để có thể áp dụng đƣợc lý thuyết môi trƣờng hiệu dụng đối với siêu vật liệu cho đến nay vẫn còn là một vấn đề cần phải làm rõ. Một số nghiên cứu gần đây [10, 11] cho thấy, bằng việc sử dụng cấu trúc lõi-vỏ dạng cầu với điều kiện sóng điện từ chiếu đến không bị tán xạ, lý thuyết môi trƣờng hiệu dụng có thể đƣợc áp dụng khi sóng điện từ chiếu đến có bƣớc sóng chỉ lớn hơn 1.3 lần hằng số mạng.
Do siêu vật liệu có kích thƣớc ô cơ sở nhỏ hơn nhiều lần bƣớc sóng hoạt động nên khi sóng điện từ tƣơng tác với vật liệu, ta có thể coi thành ba thành phần: thành phần phản xạ (reflection - R) do trở kháng của vật liệu với môi trƣờng là khác nhau, thành phần hấp thụ (absorption-A) do bản chất của vật liệu và thành phần truyền qua (T). Ở đây, chúng ta bỏ qua các thành phần nhiễu xạ và tán xạ. Nhƣ vậy, ta thấy tổng năng lƣợng của ba tín hiệu phản xạ, truyền qua và hấp thụ phải bằng tổng năng lƣợng của tín hiệu sóng truyền đến vật liệu theo công thức: R + T + A = 1 (100%) [12, 13]. Từ đó, khi biết đƣợc hai trong ba giá trị này thì có thể tính toán đƣợc giá trị còn lại.