CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM THỦY LỰC – THỦY VĂN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm tự nhiên, địa hình Hình 1.1: Khu vực nghiên cứu - Khu vực nghiên cứu gồm 03 quận, diện tích khoảng 276 km2. Cao độ địa hình thấp dần theo hướng Bắc - Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Theo chủ trương của UBND TP.HCM phát triển Thành phố về phía Nam, khu vực nghiên cứu đang có tốc độ đô thị hoá rất cao.
o Bình Chánh nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh, có các trục đường giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, Tỉnh lộ 10 nối liền với khu công nghiệp Đức Hoà thuộc tỉnh Long An, đường Nguyễn Văn Linh nối từ quốc lộ 1A đến khu công nghiệp Nhà Bè và khu chế xuất Tân Thuận ở quận 7, vượt sông Sài Gòn đến quận 2 và đi Đồng Nai, ngoài ra Quốc lộ 50 nối 5 huyện Bình Chánh với các huyện Cần Giuộc, Cần Đước của tỉnh Long An. Ngoài ra hệ thống sông ngòi của huyện như: sông Cần Giuộc, sông Chợ Đệm, kênh Ngang, kênh Cầu An Hạ, rạch Tân Kiên, rạch Bà Hom… nối với sông Bến Lứcvà kênh Đôi, kênh Tẻ, đây là tuyến giao thông thủy với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long o Quận 8 phía Bắc giáp Quận 5, lấy kênh Tàu Hũ và kênh ruột Ngựa làm ranh giới tự nhiên, phía Đông giáp Quận 4 và Quận 7, lấy rạch Ông Lớn làm ranh giới tự nhiên, phía Tây và Nam giáp huyện Bình Chánh, ranh giới không rõ ràng, vì là đồng ruộng. Nếu quay bản đồ Quận 8 nghiên cứulên trên sẽ thấy nó giống như chiếc thuyền đuôi phụng, mũi ở phía rạch Ông Lớn, đuôi thuyền ở phía sông Cần Giuộc, chiều dài gấp 5,2 lần chiều rộng. Nếu dùng ghe đi trên một đoạn Kênh Tẻ, tiếp Kênh Đôi, qua sông chợ Đệm hết địa giới Quận 8, phải đi một cung đường thủy dài 11.
Nhưng nếu băng qua chiều của Quận 8 thì chỉ khoảng 2.252 mét là khoảng rộng nhất giáp Quận 5 và Quận 6. Với chu vi gần 32 km, Quận 8 rộng gấp 4 lần các Quận 3, Quận 4, Quận 5, tương đương với Quận Gò Vấp, nhưng diện tích tự nhiên 1.880 ha của Quận 8 bị chia cắt bởi nhiều sông rạch không giống quận nào ở nội thành. Dòng Kênh Đôi như cái xương sống chạy dọc Quận và chia Quận thành hai mảnh dài và hẹp. Các kênh Bến Nghé, kênh Tàu Hũ, rạch Ông Lớn, Ông Nhỏ, Xóm Củi, Ông Nhã, Ruột Ngựa, Rạch Cát, Bà Tàng, Lòng Đèn, Rạch Cùng, Lò Gốm, rồi Kênh Ngang số 1, Kênh Ngang số 2, Kênh Ngang số 3 lại chia nhỏ Quận 8 thành những mảnh vụn.
Địa hình bị chia cắt ấy, cùng với vị trí là vùng đệm nội đô với ngoại ô, vùng bán nông – bán thị. o Quận 6 là quận ven nội thành, nằm ở phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Phía Bắc ngăn cách với quận Tân Bình và quận 11 bởi rạch Lò Gốm, đường Tân Hóa và đại lộ Hồng Bàng. 6 Phía Đông giáp ranh với quận 5 dọc theo đường Nguyễn Thị Nhỏ và đường Ngô Nhân Tịnh.
Phía Tây giáp ranh với quận Bình Tân, có ranh giới là đường An Dương Vương. o Địa hình khu vực nghiên cứu thấp dần từ K.Đôi – Tẻ (với cao trình 1.5m ở khu vực ngã ba R.Phước Kiểng – Mương chuối. Phần diện tích phía trên Nguyễn Văn Linh đã hình thành các khu dân cư nên địa hình cao đều hơn phần phía Nam, cao độ mặt đất vùng này 1. Các khu đã quy họach, khu đô thị mới có cao độ trung bình = +2.
- Biến thiên cao độ đáy – bề rộng kênh rạch cũng giảm dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Kết quả khảo sát chiều sâu đáy – bề rộng một số rạch chính trong khu vực từ tháng 2/2004 ~ 5/2006 như sau: Bảng 1.1: Kết quả khảo sát một số rạch chính Tên rạch Chiều sâu đáy TB Rộng TB Kênh đôi 7.43m 90m Kênh Tàu Hủ 6.43m 55m Sông Chợ Đệm 6.93m 55m Sông Bến Lức 4.43m 40m (Nguồn: Báo cáo kết quả đo đạt thủy văn tại khu vực Nam Sài Gòn Từ 29/05/2004 đến 27/06/2004 phục vụ cho việc tính toán xây dựng dự án thoát nước phía Nam Tp. Hồ Chí Minh do Công ty TKTVXD D&C – Dự án nâng cấp đô thị Tp.HCM thực hiện) Địa hình khu vực cũng đang thay đổi hàng ngày theo tốc độ san nền xây dựng các khu đô thị. Về địa chất Vùng nghiên cứu nằm ở miền đông bắc của châu thổ sông MêKông, có địa hình tam giác.
Địa chất của vùng nghiên cứu cơ bản là đất phù sa châu thổ 7 có cấu tạo bởi trầm tích không kết và nửa kết có nguồn gốc sông và trầm tích gốc biển. Một bề mặt đá lâu năm nằm bên dưới và đang trồi lên ở khoảng 15 km phía đông bắc thành phố, bao gồm đá lửa, trầm tích và có nguồn gốc biến chất, được ghi nhận tuổi Paleozoic và Mesozoic. Đất phù sa châu thổ được cấu tạo bởi trầm tích không kết và nửa kết có nguồn gốc sông. Khu vực nghiên cứu nằm trên vùng có cấu tạo đất phù sa lâu năm, bao quanh bởi phù sa mới, và vùng ngoại vi của thành phố là đất phù sa cũ.
Hiện trạng sông rạch 1. Hiện trạng sông rạch khu vực nghiên cứu Hình 1.2: Hệ thống sông rạch khu vực nghiên cứu 8 Hình 1.3: Hệ thống sông rạch khu vực nghiên cứu Hình 1.4: Hệ thống sông rạch khu vực nghiên cứu 9 - Một số sông ngòi của huyện Bình Chánh như: sông Cần Giuộc, sông Chợ Đệm, kênh Ngang, kênh Cầu An Hạ, rạch Tân Kiên, rạch Bà Hom… nối với sông Bến Lứcvà kênh Đôi, kênh Tẻ, đây là tuyến giao thông thủy với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long - Quận 8 bị chia cắt bởi nhiều sông rạch không giống quận nào ở nội thành. Dòng Kênh Đôi như cái xương sống chạy dọc Quận và chia Quận thành hai mảnh dài và hẹp. Các kênh Bến Nghé, kênh Tàu Hũ, rạch Ông Lớn, Ông Nhỏ, Xóm Củi, Ông Nhã, Ruột Ngựa, Rạch Cát, Bà Tàng, Lòng Đèn, Rạch Cùng, Lò Gốm, rồi Kênh Ngang số 1, Kênh Ngang số 2, Kênh Ngang số 3 lại chia nhỏ Quận 8 thành những mảnh vụn.
[5] Các sông rạch trên sẽ là thông số thuỷ lực đầu vào cho mô hình tính toán thuỷ lực chung sông rạch khu vực nghiên cứu. Ảnh hưởng của mưa, triều Khu vực nghiên cứutương đối thấp nên chịu ảnh hưởng nhiều trận ngập lụt nặng trong năm có thể trong mùa mưa cũng như mùa khô, đặc điểm và nguyên nhân ngập cũng khác nhau theo biến cố không gian và thời gian và có thể xác định được do các yếu tố lý giải như sau: (1) lũ xảy ra trong mùa khô, đây là biến cố thường xảy ra đối với vùng đất thấp chịu ảnh hưởng trực tiếp do mức nước cao từ sông rạch xung quanh tràn vào. (2) lũ có thể xảy ra đối với vùng đất cao do mưa lớn. (3) lũ xãy ra nặng nề hơn khi mức nước sông rạch xung quanh cao gặp mưa lớn đồng thời.
Các biến cố trên phân tích như sau: - TP.HCM nằm trong vùng có cường độ mưa lớn ở Việt nam. Lượng mưa lớn, phân bố rất không đồng đều trên địa bàn là yếu tố trực tiếp gây ra ngập lụt. Lượng mưa còn bị gia tăng trong những năm gần đầy do yều tố mặt đệm bị thu hẹp trong quá trình đô thị hoá, nhiệt độ không khí trong đô thị tăng cao do sự giảm sút năng lực hoàn lưu trên mặt đất, lượng khí ô nhiễm 10 thải vào khí quyển ngày càng tăng cũng góp phần làm thay đổi quy luật mưa trong khu vực. - Thuỷ triều cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tiêu thoát.
Nhiều vùng thấp trong khu vực bị nước triều tràn vào mang theo cả nước thải gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Chỉ một phần khu vực nghiên cứuđược cải thiện về cao độ nhằm hạn chế ngập do triều như các cụm công nghiệp, kho cảng: Tân Thuận, Hiệp Phước, khu đô thị mới Nam Sài Gòn. Phần còn lại trong khu vực có cao độ rất thấp chịu thiệt hại ngập nhiều do ảnh hưởng thuỷ triều. - Vào cuối mùa mưa khi khả năng chứa của các hồ điều tiết Dâu Tiếng, Trị An đã đạt bão hoà, các hồ này phải xả lũ về hạ lưu.
Thời kỳ này cũng trùng vào thời kỳ mưa bão và triều cường cuối năm, sông Sài Gòn là nơi xả nước tiêu thoát từ TP.HCM, do đó khi mực nước sông trong kỳ xả lũ dâng cao hơn bình thường 0.3m đã gây ngập nhiều vùng ven sông, nếu có mưa và triều đồng thời thì tình hình ngập lụt càng trở nên trầm trọng. - Các nghiên cứu tiếp theo sẽ xác định mực nước trong các kênh rạch khu vực nghiên cứu TP.HCM trong trường hợp có xả lũ từ thượng lưu. Các mực nước này là cơ sở để thiết kế các công trình thoát nước trong khu vực. Phân tích mưa: - TP.HCM nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng là vùng có mật độ xây dựng cao, lượng khí thải vào khí quyển cao, lượng nước thấm và bốc hơi cũng khác biệt nhiều so với các khu vực chưa đô thị hóa.
- Bảng so sánh lượng mưa bình quân năm trong các năm 1964-1973 là những năm TP.HCM chưa đô thị hoá mạnh và 1977-1998 là những năm TP phát triển sau này. thể hiện sự gia tăng lượng mưa giữa khu vực trung tâm đô thị và khu ngoại ô TP.2: So sánh lượng mưa bình quân năm các trạm TP.HCM Lượng mưa bình quân năm(mm) Trạm đo 1964 – 1973 1977 – 1998 Tân Sơn Hoà 1877 1876 Mạc Đĩnh Chi 1786 1820 Nhà bè 1482 1690 Cần Gìơ 974 858 Biên Hoà 1900 1634 Hóc Môn 1678 1412 Củ Chi 1474 1588 Lê Minh Xuân 1617 1765 Long Sơn 1315 1450 XM Hà Tiên 1780 1557 Trị An 2100 2008 Lái Thiêu 1834 1421 Tân An 1200 1342 (Nguồn: Trung tâm KTTV Phía Nam) - Kết quả phân tích tài liệu mưa trận trạm Tân Sơn Hoà từ 1952 đến 2003 như sau: Bảng 1.3: Kết quả phân tích tài liệu mưa trận trạm Tân Sơn Hoà từ 1952 đến 2003 TT Thông số Đvị Số lượng Tỷ lệ% 1 Số năm thống kê 1952-2003 năm 47 2 Tổng số lượng các trận mưa trận 11,172 3 Số năm có số trận mưa: > 200 trận năm 37 78.21 Số năm có >200 trận từ 1952-1972 năm 11 23.40 Số năm có >200 trận từ 1973 – 2003 năm 26 55.32 12 TT Thông số Đvị Số lượng Tỷ lệ% 4 Số trận có lượng mưa: > 50(mm) trận 226 2.44 5 Số trận mưa từ 1952-1972 có cường độ: > 50(mm) trận 74 0.14 6 Số trận mưa từ 1973-2003 có cường độ: > 50(mm) trận 152 1.