MỞ ĐẦU 1. ĐẶT VAN DE NGHIÊN CỨU: 1. Tóm tắt tình trạng ngập lụt tại thành phố Hồ Chí Minh - Trong những năm qua, tình hình xóa, giảm ngập nước gặp nhiều khó khăn thách thức do bị ảnh hưởng thời tiết bién động rất phức tạp. Theo số liệu thông kê, trong vòng 40 năm kể từ năm 1962 đến năm 2001, trên địa bàn Thành phố xuất hiện 09 trận mưa trên 100mm.
Nhưng từ năm 2002 đến nay đã xuất hiện 29 trận mưa trên 100mm, chỉ tính riêng trong bốn năm 2011+2014 đã xảy ra 579 trận mưa, số trận mưa có vũ lượng trên 100mm xuất hiện 12 lần. Năm Số trận | Trận mưa Trận mưa | Trận mưa | Trận mưa | Trận mưa mưa trên 100mm | trên 90mm | trên 80mm | trên 70mm | trên 50mm 2010 155 01 03 02 07 18 2011 164 02 05 02 06 05 2012 153 06 01 01 03 II 2013 131 02 03 01 06 13 2014 131 02 04 03 06 09 Tần suất xuất hiện mưa trên 100mm 35 4 30 - 29 25 ¬ 20 ¬ 12 10 - 9 1962-2001 2002 đến nay 2011-2014 năm Bảng 1.1: Tân suất xuất hiện mưa trên 100mm (từ năm 1962 đến năm 2014) Trang | - Ngoài ra diễn biến mực nước có xu hướng tăng liên tục, mực nước tại trạm Phú An trong 17 năm từ năm 1990 đến 2007, mực nước dao động dưới +1. Tuy nhiên từ 2008 đến nay, mực nước triều thường xuyên giữ trên mức báo động III (+1. tính riêng từ năm 2011 đến 2014 mực nước duy tri ở mức cao +1,60m, chạm mức +1.
Bên cạnh đó, tô hợp bat lợi xuất hiện ngày càng nhiều hơn giữa mưa xảy ra cùng lúc đỉnh triều cường, diễn ra trên diện rộng trong 03 năm 2011-2014 (đỉnh triều từ +1,30m đến +1,68m kết hợp mua với vũ lượng từ 30mm đến 143mm). Biêu do đỉnh triéu và tân suât xuât hiện ~ “ 76 sốlần 0 70 - 60 - 50 - 40 + 30 - 20 - 15 10 - O 0 < 1.68)m 1980-2007 2008-2010 2011-2014 Đỉnh triều qua các thời kỳ Bang 1.2: Dinh triều và tần suất xuất hiện (từ năm 1980 đến năm 2014) - Ngập lụt tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở nên trầm trọng. Người dân đang phải chịu thường xuyên cảnh ngập nước, không những tại các vùng trũng mà còn ca ở các quận trung tâm. Tình trạng ngập sâu và kéo dài hàng giờ liền không những gây thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của nhân dân trong khu vực bị ngập lụt.
Do đó, giải quyết xóa, giảm ngập nước đang là một trong những mối quan tâm lớn nhất của chính quyền thành phố Hỗ Chí Minh trong những năm gan đây. Tong quan hệ thong thoát nước tại thành phố Hồ Chi Minh 1. VỊ trí địa lý: - Thành phô H6 Chi Minh năm phía hạ lưu của các con sông lớn: Sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Trang 2 - Diện tích tự nhiên: 2.095 ,06km”, duoc chia thanh 24 quan, huyén, dan số khoảng 10 triệu người. Đặc điểm tự nhiên: - Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng chuyền tiếp từ vùng gò đôi Đông Nam Bộ, cao độ địa hình biến thiên từ +30 m (vùng phía Bắc) đến +0,5 m (phía Nam quận 7, huyện Nhà Bè) và xuống dưới +0,0 m (các vùng trũng thấp và rừng ngập mặn huyện Cần Gid).
- Độ dốc địa hình thấp dần từ Bắc - Đông Bắc đến Tây - Tây Nam. Lượng mưa trung bình 1. - Địa hình tương đối thấp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều xâm nhập từ Biển Đông làm hạn chế khả năng thoát nước: Với diện tích 2.0m, 455 km? (chiếm 21,72%) có cao độ từ +1.5m; đặc biệt là vùng trung tâm với diện tích 108km” có 43,15km” (chiếm 40% diện tích) có cao độ <+1.6m (trong đó tập trung tại các Quận 4, 8, Bình Thạnh); do đó thường xuyên bị ảnh hưởng bởi triều cường gây ngập cho khu vực. - Ngoài ra Thành phố Hồ Chí Minh còn chịu tác động trực tiếp dòng chảy lũ từ thượng lưu thông qua các sông Đồng Nai, Sài Gòn cũng như những tác động trực tiếp từ triều biên Đông nên thường xuyên xảy ra tinh trạng ngập nước.
Dé chủ động đối phó với tình trạng ngập nước trên địa bàn thành phố H6 Chí Minh đã có những đầu tư không nhỏ về công sức, vốn dé giải quyết van dé nay. Tuy nhiên tình trạng ngập nước vẫn thường xuyên xảy ra, hàng năm phát sinh thêm các điểm ngập mới, đặc biệt là tại các khu vực đang đô thị hóa đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân và công cuộc phát triển kinh tế xã hội của thành pho. Trang 3 BẢN ĐỎ CAO ĐỘ THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH _ a0 a9 <+1.1: Ban đồ cao độ Thành phố Hồ Chí Minh 1. Mạng lưới sông, kênh, rạch: Tổng chiều đải mạng lưới sông, kênh rạch: 5.
Trong đó: Phục vụ tưới tiêu 2.923km; Phục vụ thoát nước 1.177km; Phuc vụ giao thông thủy 975km. Hệ thong thoát nước: - Hệ thống cống thoát nước khu vực thành phố Hồ Chí Minh được chính quyên thời Pháp thiết kế, và bắt đầu xây dựng vào đầu những năm 1870. Kê từ đó, việc xây dựng được tiếp tục theo từng giai đoạn và tập trung ở khu Sai Gòn cũ ở quận | và 3. Theo báo cáo trong Nghiên cứu Khả thi Thoát nước Sài Gòn do USAID va Bộ công chánh, Việt Nam thực hiện năm 1971, khoảng 113 km tuyến cống thoát nước chính đã được lắp đặt trong những năm 1870.
Sau đó, vào cuối những năm 1960 hệ thống công thoát nước được chính quyền thời Mỹ mở rộng đến quận 10. Sau giải phóng, việc xây dựng mạng công thoát nước được tiếp tục vào đầu những năm 1980. - Tong chiéu dai công thoát nước trên địa bàn thành phố là 3.099km; Trong đó, Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập nước phụ trách quản lý 1.380km (Quyết định số 4224/QD-SGTVT ngày 24 tháng 12 năm 2012 của Sở Giao thông vận tai); Ủy ban nhân dân các quận, huyện phụ trách quan lý 1. - Theo quy hoạch tong thé hệ thong thoát nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 752/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2001 thành phố được phân thành sáu (06) vùng thoát nước: Vùng Trung tâm, Vùng Bắc, Vùng Nam, Vùng Tây, Vùng Đông Bắc, Vùng Đông Nam.
Chỉ tiết tại các vùng thuộc Quy hoạch cụ thể như sau: (1) Vùng thoát nước mưa Trung tâm Thành pho (S = 106,40 km2): - Vùng này gồm toan bộ trung tâm thành phố và các kênh chính trong vùng là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Tân Hoá - Lò Gốm, kênh Tau Hii - Bến Nghé và kênh Đôi - Tẻ. Hệ thống mạng lưới cống chung được chính phủ Pháp xây dựng trong khu vực từ những năm 1870, những tuyến công này xả nước mưa và nước thải vào các kênh trên. Cuối cùng, những kênh này xả ra sông Sai Gon. - Hiện nay, vùng này có các dự án lớn đã và đang triển khai cải tạo, nâng cấp hệ thong thoát nước như dự án Vệ sinh mdi trường, dự án Cai thiện môi trường nước, dự án Nâng cấp đô thị.
Trang 5 (2) Vùng thoát nước mưa phía Bắc Thành phố (S = 136,18 km”): Đây là khu vực ngoại thành phía Bắc với các kênh chính là kênh Tham Lương - Bến Cát, rạch Đại Hàn, rạch Bến Đá - Bà Hồng. Trong vùng này chỉ có quận Gò Vấp là có hệ thong thoát nước tương đối hoàn chỉnh, còn các khu vực khác vẫn chưa có hệ thong thoat nước hoàn chỉnh. Nước mua duoc thu từ công, rãnh và rạch xả trực tiếp vào các kênh chính nói trên và thoát ra sông Sài Gòn. (3) Vùng thoát nước mưa phía Tây Thành phố (S = 72,91 km’): Đây là vùng đất thấp dọc rạch Chùa - Nước Lên.
Các kênh chính trong vùng là Rạch Chùa - Nước Lên, sông Bến Lic và sông Cần Giuộc. Vùng nay hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh. Nước mưa và nước thải theo các rãnh, rạch thoát ra sông Bến Lức và Cần Cuộc, sau cùng chảy ra sông Nha Be. (4) Vùng thoát nước mưa phía Nam Thành phố (S = 81,74 km?): Các kênh chính trong vùng là rạch Bà Lào, rạch Xóm Cui, rạch Ông Lớn, rạch Cây Khô, rach Đĩa, sông Mương Chuối.
Đây là vùng đất thấp với hệ thống kênh rach dày đặc. Trong những năm gan day, vùng này có một số dự án phát triển kinh tế do nước ngoài dau tư. Nước mưa và nước thải theo các kênh rạch nhỏ thoát ra các kênh trên và cuối cùng chảy ra sông Nha Be. (5) Vùng thoát nước mưa Đông Bắc Thanh phố (S = 64,91 km”): Các kênh rạch chính là rach Gò Dua, rạch Suối Nhum, rạch Cau, và rạch Gò Công.
Vùng nay chủ yếu là đất nông nghiệp và đôi khi bị ngập do nước sông Sai Gòn khi triều cao tràn vào vì không đủ hệ thống đê bao dọc sông. (6) Vùng thoát nước mưa Đông Nam Thành phố (S = 119,37 km?): Vùng nảy có mạng lưới kênh rạch dày đặc và các kênh chính là rạch Chiếc, rạch Ông Hồng, rạch Kiéu, rach Ong Nhiéu, rach Trau Trau va song Tac. Vung nay chu yeu la đất nông nghiệp và một số khu dân cư vừa được phat triển gần đây. Khu vực nay, hệ thống thoát nước còn thiếu nhưng có mạng lưới kênh rạch rất dày đặc.
Nước mưa và nước thải theo các mương rãnh thoát ra các kênh rạch nói trên rồi chảy ra sông Sai Gòn va Dong Nai. Trang 6 SCALE 1:190000 0 1 2 3 4 5 Km Hình 1.2: Bản đồ 6 vùng thoát nước Trang 7 Hệ thong kênh, rạch phục vụ thoát nước theo các vùng chu yếu: Diện tích Chiêu dài TT Tên mạng lưới kênh rạch Vùng (km) lưu vực Tên quận m (km?) 1 | Tân Hóa — Lò Gốm Trung 707 1435 6, 8, 11 và Tân Binh tam 2 | Tau Hũ - Bến Nghé — Kênh Đôi| Trung 122 61,73 | 4,5, 6, 7, 8, 11 và — Kênh Tẻ tâm 136 Bình Chánh 3 | Nhiéu Lộc - Thị Nghe Trung 940 33,2 1,3, 10, Phú Nhuận, tam Tân Binh, Gò Vấp, Bình Thạnh 4 | Tham Lương - Bến Cát Bắc 14.98 1076 |Hóc Môn, Gò Vấp, 12, Tân Binh 5 | Rach Chua - Rach Nước Lên Tay 13,54 40,1 8, Binh Chanh 6 | Rạch Sông Tân-Rạch Cả Cắm- | Nam 11,92 34.5 7 và Nhà Bè Rạch Rơi-Rạch Tôm-Mương Chuỗi 7 | Rạch Gò Công Đông 12,58 344 9 và Thủ Đức Bắc 8 | Rạch Ông Nhiêu Đông 6.