CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ; KỸ THUẬT HẠ TẦNG ĐÔ THỊ VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Nội dung nghiên cứu của chương đề cập tới các vấn đề sau: nghiên cứu về đô thị; nghiên cứu về hệ thống hạ tầng kỹ thuật; nghiên cứu về Khoa học Phát triển bền vững tạo tiền đề và định hướng cho việc nghiên cứu đánh giá tình hình kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng của quận Gò Vấp được trọng tâm và có chiều sâu. Gồm các nội dung nghiên cứu sau: 1. Tổng Quan về Đô thị 1. Đô thị và điểm dân cư đô thị Thực hiện đô thị và khái niệm đô thị đã xuất hiện từ trong lịch sử xa xưa, có lẽ từ khi bắt đầu hình thành nếp sinh hoạt, khác biệt với nếp sinh hoạt đồng quê (urban life – rural life).
Loài người đã từng biết các thị quốc, các đô thị cổ đại như Troy, Roma, Constantinople (Istanbul)…. Những đô thị chỉ xuất hiện sau một quá trình chuyển động tiền đô thị với những điều kiện như sự định cư, sự xuất hiện kỹ thuật tiến bộ, công nghiệp phát triển đáng kể và việc tăng dân số. Dần dần, trạng thái cứ biến đổi về chất, từ cộng đồng tập trung ở địa phương, cô lập, tự cung tự cấp và với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một hình thái tập trung dân cư mang sắc thái khác hẳn, đó là sắc thái của đô thị. Đô thị ra đời khi hình thức sản xuất không phải nông nghiệp, tách khỏi nông nghiệp, không còn nằm trong khung cảnh nông thôn.
Theo Terry Mc Gee, một chuyên gia người Canada, nổi tiếng về đô thị học thì: Thành phố là nơi tích lũy của cải và truyền thống, và là nguồn phát triển chính những khuôn mẫu văn hóa – là trung tâm của văn minh. Nó là trung tâm thần kinh của quốc gia và là đối tượng tấn công chính của kẻ xâm lược. Trong The Amrica Encylopeadia, đô thị được trình bày với một quan niệm như sau: “…thành phố (city) chỉ là một tập hợp dân cư có một quy mô đáng kể, ở đó điều kiện sống được xem là theo kiểu đô thị, trái ngược với đời sống nông thôn ở miền thôn dã… Theo nghĩa đó, thành phố là một hiện tượng chung của xã hội văn minh”. Như vậy, thành phố phải là nơi có điều kiện tốt nhất để tổ chức xây dựng một xã hội văn minh, cũng có nghĩa nó phải là đầu tàu của sự phát triển của vùng, của quốc gia và thậm chí của khu vực.
Điều này cũng được trình bày trong Encylopeadia of the Social Sciences như sau: “Trong tất cả các thời đại 5 và các khu vực, từ Ai Cập cổ đại đến nước Mỹ hiện đại, sự phát triển cao nhất của trí lực, sáng kiến và thành tựu là ở trong các cộng đồng đô thị. Chừng nào mà con người còn ở trong giai đoạn chăn nuôi và nông nghiệp thì vẫn còn có ít chất kích thích để phân chia chức năng kinh tế, toàn bộ năng lực của con người bị thu hút vào công việc lo cung cấp lượng thực, nhưng với thành phố thì có sự phân công lao động và những khả năng tạo ra thặng dư kinh tế. Điều này đã đưa đến sự tiến bộ về của cải, thời gian rảnh rỗi, giáo dục trí óc và sự phát triển của nghệ thuật và khoa học”. Vậy “Đô thị là sản phẩm của văn minh nhân loại phát triển đến một trình độ nhất định, là hình thức quần cư phức tạp xuất hiện trong quá trình đô thị hóa, nó phản ánh một cách tổng hợp quá trình và trình độ phát triển của xã hội”.
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp. Mỗi điểm dân cư đô thị là trọng tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia. Điểm dân cư đô thị là nơi tập trung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất như đầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung,… Quy mô điểm dân cư đô thị được xác định dựa vào đặc điểm kinh tế của từng nước và tỉ lệ phần trăm dân cư nông nghiệp của một đô thị. Ở Việt Nam, theo các văn bản hiện hành quy định: Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện: Về cấp quản lý Đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.
Về trình độ phát triển Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn. 6 Tỷ lệ lao động phi công nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị, đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững. Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị, có tổ hợp kiến trú hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Phân loại đô thị 1. Mục tiêu của việc phân loại đô thi Tổ chức, sắp xếp và phát triển hệ thống đô thị cả nước Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị Nâng cao chất lượng đô thị và phát triển đô thị bền vững Xây dựng chính sách và cơ chế quản lý đô thị và phát triển đô thị 1.
Các tiêu chuẩn phân loại đô thị Ở Việt Nam, đô thị được phân loại trên cơ sở chỉ tiêu cụ thể của các tiêu chuẩn sau đây: a. Tiêu chuẩn 1: Chức năng đô thị Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị bao gồm: Vị trí, vai trò của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước: được xác định trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam, quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện Tính chất của đô thị: Đô thị là trung tâm tổng hợp khi có chức nang tổng hợp về nhiều mặt như hành chính – chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế (công nghiệp, dịch vụ, du lịch), đào tạo, nghiên cứu khoa học; 7 Đô thị là trung tâm chuyên ngành khi có một vài chức năng nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết định tính chất của đô thị như: đô thị công nghiệp, du lịch, nghiên cứu khoa học, đào tạo, đô thị cảng; Đô thị tà trung tâm tổng hợp của một tỉnh, vùng tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc của cả nước. Phương pháp để xác định tính chất chuyên ngành hay tổng hợp của đô thị trong một hệ thống đô thị được căn cứ vào chỉ số chuyên môn hóa tính theo công thức sau: CE = (1) Trong đó: CE: Chỉ số chuyên môn hóa (nếu CE > 1 thì đô thị đó là trung tâm chuyên ngành của ngành i); Eij : Lao động thuộc ngành i làm việc tại đô thị j; Ej : Tổng số lao động các ngành làm việc ở đô thị j; Ei: Tổng số lao động thuộc ngành i trong hệ thống các đô thị xét; E: Tổng số lao động trong hệ thống đô thị xét Trong trường hợp không có đủ số liệu để tính toán chỉ số chuyên môn hóa C E, thì tính chất đô thị có thể xác định theo đồ án quy hoạch chung được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đô thị; Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đô thị được xác định trong phạm vi địa giới hành chính của đô thị: Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng/năm): Tổng thu ngân sách trên địa bàn gồm cả thu ngân sách địa phương hưởng 100%, thu ngân sách địa phương hưởng theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương và thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; Tổng chi ngân sách (tỷ đồng/năm): bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả lãi, gốc, tiền cho huy động đầu tư, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi bổ sung ngân sách cấp dưới, chi chuyển nguồn năm trước sang năm nay, chi các nhiệm vụ chi khác; Cân đối thu chi ngân sách; Thu nhập binh quân đầu người năm so với cả nước (lần); 8 Mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất (%); Tỷ lệ nghèo được xác định theo quy định hiện hành (%); Tỷ lệ tăng dân số hàng năm (%), bao gồm tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học không kể tăng do mở rộng địa giới hành chính khu vực nội thị.