Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về hoa cúc mâm xôi 1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại Cây cúc mâm xôi là một loại hoa trong họ cúc, có tên khoa học là (Chrysathemum morifolium), cúc mâm xôi xuất hiện lần đầu tiên ở Đông Nam A cách đây 3000 năm. Không chỉ được trồng phô biến ở Đông Nam Á, cây cúc mâm xôi còn được các nước phương Tây yêu thích. Có nhiều bằng chứng cho thấy cúc mâm xôi xuất hiện nhiều vào thế kỷ 17, đến thế kỷ 19 thì được lai tạo và nhân rộng được biệt ở được trồng nhiều ở Hà Lan. Hiện nay, hoa cúc được trồng phổ biến khắp nước ta, chúng có mặt ở mọi nơi từ những vùng cao cho đến đồng bằng, từ nông thôn cho đến thành thị.
Vùng sản xuất chính chủ yếu là ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Gò Vấp, Đà Lạt. Trong hệ thống phân loại thực vật, các cây hoa họ cúc thuộc ngành thực vật hạt kín: Angiospermes, lớp hai lá mầm: Dicotyledonae, phân lớp cúc: Asterdae, bộ cúc: Asterales, họ cúc: Asteraceae; chi Chrysanthemum. Hiện nay trên thé giới có khoảng 200 loài và ở Việt Nam có 5 loài và toàn bộ những giống cúc trồng ra hoa làm cảnh đều nhập từ nước ngoài vào (Lê Kim Biên, 1984) 1.2 Dac điểm thực vật học Rễ của cây hoa cúc có bộ rễ phụ phát triển, rễ cây ít ăn sâu và phát triển theo chiều ngang. Khối lượng bộ rễ lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng mạnh.
Thân hoa cúc thuộc thân thảo nhỏ, có nhiều đốt giòn dé gãy càng lớn càng cứng, cây dạng đứng hoặc bò. Kích thước thân cao hay thấp, to hay nhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng. Những giống nhập nội thường to mập, thang và giòn. Những giống cúc đại hay cổ truyền Việt Nam ngược lại thân nhỏ mảnh và cong.
Thân có ống tiết nhựa mủ màu trắng, mạch có bản ngăn đơn. Ở Việt Nam WN cây có thé cao 30-80 cm, trong điều kiện ngày dai cây cúc có thé cao đến 1,5 - 2 m (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tổ Nga, 2007). Lá cúc thường là lá đơn không có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻ thùy lông chim, phiến lá mềm mỏng có thê to hay nhỏ, màu sắc xanh đậm hay xanh nhạt tùy thuộc vào từng giống. Mặt dưới phiến lá có một lớp lông tơ, mặt trên nhẫn, gân hình mạng.
Trong một chu kì sinh trưởng tùy vào từng giống mà trên một thân cúc có 30-50 lá (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003). Hoa gồm nhiều hoa nhỏ hợp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa tự đầu trang mà mỗi một hoa thực chất là một bông (Đào Mạnh Khuyến, 1996). Đường kính hoa từ 1,5 - 15 cm với nhiều màu sắc khác nhau (trắng, vàng, đỏ cam, đồng, tím xanh và cả sự pha trộn các màu sắc trên). Các cánh hoa có nhiều dạng (cong, thang, moc cau, tua.) xếp thành nhiều tang chặt hay mỏng tùy giống.3 Điều kiện về ngoại cảnh và dinh dưỡng Xét về điều kiện ngoại cảnh của hoa cúc là các nghiên cứu các điều kiện sống thích hợp nhất cho cây.
Nắm vững các điều kiện ngoại cảnh cũng như khả năng thích ứng của cây đối với điều kiện tự nhiên để tác động các biện pháp kỹ thuật một cách hữu hiệu trong quá trình chăm sóc hoa cúc. Nhiệt độ: Là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển, nở hoa và chất lượng hoa cúc. Hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 15 - 20°C, cúc có thé chịu đựng nhiệt độ từ 10 - 35°C, nếu nhiệt độ trên 35°C và đưới 10°C sẽ làm cho cây cúc sinh trưởng và phát triển kém. Ở thời kỳ cây con hoa cúc yêu cầu nhiệt độ cao hơn.
Ban ngày cây cần nhiệt độ cao dé quang hợp, ban đêm nhiệt độ cao sẽ thúc day quá trình hô hấp làm tiêu hao chất dự trữ trong cây. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sự phân hóa và phát dục của hoa mà còn ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của nụ. Nụ đã được phân hóa gặp nhiệt độ thấp quá trình sinh trưởng sẽ bị chậm nên hoa nở muộn. Ánh sáng: Cúc là loại cây ngày ngắn, ưa sáng.
Ở giai đoạn cây con, cây cần ít ánh sáng khi mới ra rễ vì cây còn sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ. Sau khi tiêu hao hết chất dinh dưỡng cây chuyên qua giai đoạn tự dưỡng, đặc biệt là giai đoạn phân cành, cây cần nhiều ánh sáng để quang hợp, tạo nên chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây. Nhưng ánh sáng quá mạnh làm cho cây chậm lớn. Ngoài ra thời gian chiếu sáng đối với cúc rất quan trọng hay nói cách khác ngày đêm dài hay ngắn có tác động khác nhau đến cây cúc trong việc phân hóa mam hoa.
Dé sinh trưởng thân lá thì cây hoa cúc cần ánh sáng ngày đài, thời gian cần chiếu sáng trong ngày là 13 giờ. Dé cây ra hoa thì một số giống hoa cúc cần được chiếu sáng từ 10 giờ đến 11 giờ và nhiệt độ trên dưới 20°C. Các giống cúc ngắn ngày thường được trồng vào vụ đông. Với giống hoa cúc phan ứng với ánh sáng ngày ngắn muốn cây hoa cúc tré hoa sớm cần che tối rút ngắn thời gian chiếu sáng và bón phân hợp lý.
Đối với các giống hoa cúc ra hoa trong điều kiện ngày dài như CN93, CN98, cúc Tím Hè có thé trồng vào vu hè để cây ra hoa quanh năm. Muốn cho những giống cúc này ra hoa chỉ cần điều khiển ánh sáng trong ngày dài ra (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007). Am độ: Cây hoa cúc sinh trưởng và phát triển thích hợp ở điều kiện âm độ đất 60- 70%. Âm độ không khí từ 55-65%.
Âm độ lớn hơn 80% cây sinh trưởng mạnh, nhưng một sô bệnh trên cây hoa cúc do nam gây ra dé phát triển. Ở thời kỳ thu hoạch, cây hoa cúc cần điều kiện thời tiết khô ráo (Phạm Thị Minh Tâm, 2010). Dinh dưỡng: Cần đảm bảo đủ và cân đối về mặt dinh dưỡng thì cây hoa cúc mới phát triển tốt. Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ còi cọc, hoa nhỏ và sâu bệnh hai dé xâm nhập và phát triển.
Nếu bón phân không cân đối thừa dinh đưỡng đạm, cây phát triển cao và khả năng chống chịu sâu bệnh kém. Nhu cầu về phân bón của cây hoa cúc cũng giống như các loại hoa và cây cảnh khác bao gồm phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh, phân vi sinh), phân vô cơ (đạm, lân, kali) và các phân vi lượng, trung lượng (Ca, Mg, Fe, Cu.) bón ở mức cân đối (Dang Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003).4 Giá trị về kinh tế và sử dụng Cây cúc mâm xôi không chỉ hấp dẫn người tiêu dùng về màu sắc rực rỡ, phong phú, hình dang đa dang mà còn là biểu hiện cho sự sung túc, dong day. Với đặc tính hoa chi chit và nở từng lớp, cúc mâm xôi rat day đặn và dày hoa theo thời gian rat lâu, có thé sau tết từ 2-4 tháng thì cúc mâm xôi van còn khá nhiêu nụ và chưa tàn. Giá bán cúc mâm xôi vào địp tết đao động từ 120-160 nghìn đồng/chậu.
cúc mâm xôi còn được sử dụng trang trí các công trình, đường phó, khu đô thị. Với số lượng hoa day va màu sắc rực rỡ dé dang gây thiện cảm và tạo điểm nhắn cho người tham quan, đi đường.5 Nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu cho cây Cây hoa cúc thích hợp với đất thịt màu mỡ, tơi xốp, thoát nước tốt, pH từ 6-7. Nếu trồng trên đất thịt nặng, úng thấp, cây sinh trưởng kém, hoa nhỏ, chất lượng hoa xấu và dé bị héo xanh vi khuân. Nên sử dụng hỗn hợp đạm vô cơ với phân chuồng hoặc phân vi sinh bón cho cây hoa cúc đê dinh dưỡng cân đôi.
Lân (P): Phân lân giúp cho bộ rễ khỏe, thân cứng và hoa đẹp, bền màu. Giúp tăng cường hút các chất dinh dưỡng khác của cây cúc. Kali (K): Phân kali giúp cây trao đối và vận chuyển đường bột, lá quang hợp tốt thân cứng và hoa đẹp, bền màu. Ngoài ra, phân kali còn giúp cây tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết khác.
Nhu cầu về phân vi lượng của cây hoa cúc rất ít nhưng không thê thay thế được. Các loại phân vi lượng thường được bón qua lá ở giai đoạn cây con với nồng độ thấp từ 0,01 đến 0,02% (Phạm Thị Minh Tâm, 2017).1 Khái niệm về giá thể Giá thể được xem là một môi trường giúp cây đứng vững nhờ sự bám chặt của rễ, cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng và điều hòa nhiệt độ nhờ khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của giá thé. Ngày nay, việc nghiên cứu và sử dung giá thể ngày càng trở nên phô biên nhờ vào các ưu diém như hạn chê được sâu bệnh và cỏ dai có trong dat, một số giá thể hữu hiệu còn giúp duy trì độ âm và thoáng khí tốt (Trương Thi Cam Nhung, 2016). Theo Trương Thị Cam Nhung (2016), một giá thé tốt và lý tưởng cho cây trồng phải có các yêu câu sau.
- __ Trữ lượng đinh dưỡng cao và dé dàng cung cấp cho cây trồng, phân bón dé dàng chuyền hóa thành dạng đễ hấp thu đối với cây trồng. - Kha năng giữ các chất dinh dưỡng dễ tiêu cao (hạn chế rửa trôi) - Cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng trong trạng thái cân bằng - _ Giữ và cung cấp nước day đủ - Duy trì độ thoáng khí tốt Giá thể trồng cây gồm: Phần rắn, phần rỗng, phần nước hữu hiệu và nước dư. Trong đó quan trọng nhất là phần rỗng, tạo cho giá thê thông thoáng, giúp bộ rễ cây hô hap đồng thời giúp các vi sinh vật có ich phát triển, nước hữu hiệu giúp cây hút dé dàng. Khi sử dụng giá thé thay thé cho đất thì việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng và điều chỉnh pH thích hợp là cần thiết để giúp cây phát triển tốt (Huỳnh Thanh Hùng và ctv, 2018).2 Các đặc tính của giá thé 1.1Khả năng giữ 4m và độ thoáng khí Vật liệu tạo giá thể quá mịn làm cho những khoảng trống quá nhỏ, gây hạn chế cho việc thoát nước, ngược lại vật liệu quá thô nhiều oxy được chứa tại những khoảng trống gây khó khăn cho việc giữ nước.
Bởi những khoảng trống trong giá thể thể hiện hai đặc tính về khả năng giữ nước cũng như độ thoáng khí.