CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO KẾT CẤU NỀN MÓNG CÔNG TRÌNH CẦU 1. MÓNG ĐƯỜNG ĐẦU CẦU TRÊN ĐẤT YẾU Đất yếu là những đất có khả năng chịu tải kém, tính nén lún lớn, bão hoà nước, có hệ số rỗng lớn, có môđun biến dạng nhỏ, sức chống cắt nhỏ…Theo Quy trình khảo sát thiết kế nền đường ôtô đắp trên đất yếu 22TCN2622000 thì theo nguyên nhân hình thành đất yếu có thể có nguồn gốc khoáng vật hoặc nguồn gốc hữu cơ. Đất yếu có thể phân loại như sau: Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét ở trạng thái bão hòa nước, chảy hoặc dẻo chảy, có cường độ thấp. Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200μm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực.
Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%). Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể. Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy. Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc diểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập.
Khi xây dựng nền đường đắp cao sau mố trên đất yếu, cần thiết phải sử dụng các giải pháp gia cố nền đất để đảm bảo ổn định. Hiện nay có nhiều giải pháp xử lý đất yếu như: 4 Giải pháp thay đất. Giải pháp sử dụng bệ phản áp. Giải pháp gia tải trước hay còn gọi là gia tải tạm thời.
Giải pháp dùng vải, lưới địa kỹ thuật. Giải pháp giảm nhẹ trọng lượng nền đắp. Giải pháp dùng tầng đệm cát. Giải pháp thoát nước theo phương thẳng đứng.
Giải pháp hút chân không. Giải pháp cọc cát, cột balát (cột đá dăm). Giải pháp sử dụng cột đất xi măng hoặc đất vôi. Công nghệ sử dụng nguyên lí điện thấm để tăng nhanh độ cố kết của đất.
Giải pháp sử dụng sàn giảm tải trên nền cọc đóng. Giải pháp sử dụng cọc đóng kết hợp với vải địa kỹ thuật. Một trong các giải pháp hay được sử dụng hiện nay là sử dụng hệ cọc xi măng đất, hay còn gọi là phương pháp trộn sâu. Nguyên lí của công nghệ này là dùng các trang thiết bị trộn sâu chuyên dụng ( hay phương pháp trộn dưới sâu Deep mixing method – DMM ) để trộn đất yếu tại chỗ với xi măng hoặc vôi và tạo ra các cột đất gia cố xi măng hoặc vôi mềm hoặc nửa cứng ( là các cột đất gia cố có sức chống cắt dưới 150kPa – theo phân loại cột của Thuỵ Điển ).
Các cột này vừa thay thế một phần đất yếu lại vừa chèn vào trong đất yếu tạo ra các hạn chế nở hông theo phương ngang đối với đất yếu , tạo ra lực ma sát giữa cột với đất yếu và từ đó tạo ra được sự cùng làm việc ở một mức độ nhất định giữa cột với đất yếu khi chịu tải trọng đắp phía trên , tức là tạo ra được một móng làm việc theo nguyên lí “ nền móng phức hợp “ (Composite Foundation ) dẫn đến tăng sức chịu tải và giảm độ lún của đất yếu 5. ( Dry Jet Mixing M ,l .1 – Các sơ đồ bố trí cọc đất xi măng (a). Sơ đồ song song 6 Tùy theo mục đích sử dụng có thể bố trí cọc theo các sơ đồ khác nhau. Hai dạng bố trí cọc đất xi măng điển hình nhất khi gia cố nền đất trong xây dựng nền đường trên đất yếu là dạng bố trí tam giác và dạng bố trí vuông góc (Hình 1.Riêng ở Việt nam, thì sơ đồ vuông góc được sử dụng trong hầu hết các trường hợp xây dựng đường trên nền đất yếu.
Mặt cắt ngang nền đường có gia cố bằng cọc xi măng đất được biểu diễn như hình 2. Hệ cọc xi măng đất có thể được bố trí theo sơ đồ cọc ma sát hoặc cọc chống tùy theo đặc điểm địa chất của các lớp đất tốt phía dưới tầng đất yếu. Nếu đất nền tốt thì sử dụng cọc chống, nếu không thì dùng cọc ma sát.2 - Giải pháp cọc chống (a) hoặc cọc ma sát (b) 1.MÓNG NÔNG Móng nông là loại móng có độ sâu chôn móng (h) nhỏ hơn 5~6 mét.Độ sâu (h) có thể tính từ mặt đất hoặc mực nước thấp nhất (Hình 1.Hình dạng về kết cấu móng nông tương đối đơn giản, với móng trụ mố cầu thường chọn hình chữ nhật hoặc hình vuông.Biện pháp thi công tương đối dễ dàng với chi phí thi công rẻ. Toàn tải trọng bên trên cầu được bệ móng truyền trực tiếp xuống nền.Bỏ qua sự làm việc của đất hai bên bệ móng.
7 Do móng có chiều sâu chôn nhỏ, ở các lớp đất phía trên có sức chịu tải không lớn nên sức chịu tải nền đất là không cao và do đó móng nông chỉ thích hợp với công trình nhỏ.Trong trường hợp mực nước mặt nằm sâu thì phương án thi công tương đối phức tạp do phải tăng chiều dài cọc ván và các công trình phụ trợ khi thi công.Móng nông rất kém ổn định với tải trọng ngang và mô men, do chúng dễ làm móng bị trượt và lật quanh mép móng.3 - Trụ cầu trên móng nông Có thể phân loại móng nông theo các tiêu chí khác nhau như sau: Theo vật liệu làm móng có thể phân móng nông thành các loại như sau: Đá xây: giống như móng gạch xây móng đá xây phải được thi công từ dưới lên trên và khả năng tạo hình của đá xây là kém nên cũng làm kéo dài thời gian thi công, giảm hiệu quả kinh tế. Móng đá xây ít được sử dụng trong công trình cầu đường có yêu cầu về thời gian ngắn và chất lượng công trình cao. Bê tông: khả năng tạo hình tốt thời gian thi công nhanh. Khả năng chịu nén tốt nhưng khả năng chịu kéo rất kém.
8 Bê tông cốt thép: móng bằng bê tông cốt thép có ưu điểm của móng bê tông đồng thời có khả năng chịu kéo tốt. Theo kích thước móng có thể phân loại các loại móng nông như sau: Móng đơn: là móng có kích thước chiều dài, chiều rộng, chiều cao đều nhỏ. Móng băng: là móng có chiều dài lớn hơn rất nhiều so với chiều rộng. Móng bè: là móng có chiều dài và chiều rộng lớn hơn rất nhiều so với chiều dày.
Theo độ cứng của móng: Móng cứng là móng có biến dạng của móng rất nhỏ so với biến dạng của nền. Móng mềm: móng có biến dạng của móng tương đương với biến dạng của nền. Móng nửa cứng: móng có độ cứng trung gian giữa móng mềm và móng cứng. Theo vị trí tác dụng của tải trọng Móng có tải trọng tác dụng đúng tâm: điểm đặt của tải trọng nằm ở trọng tâm của móng.
Móng có tải trọng tác dụng lệch tâm: điểm đặt của tải trọng nằm lệch khỏi trọng tâm móng, điểm đặt tải trọng càng xa trọng tâm thì lệch tâm càng lớn. Móng có tải trọng ngang lớn thường xuyên: ví dụ mố cầu có chiều cao lớn thì áp lực đất phía sau móng sinh ra áp lực ngang lớn. Theo phương pháp thi công: Phương pháp thi công tại chổ: có ưu điểm là tận dụng được nhân công, tạo ra khối bê tông móng có tính liên tục, dễ dàng khắc phục những sai số trong 9 thi công và không đòi hỏi kỹ thuật thi công cao. Nhưng có nhược điểm là thời gian thi công lâu nên ảnh hưởng của điều kiện thi công, chất lượng bê tông không tốt bằng lắp ghép vì bảo dưỡng ở công trường không tốt bằng tại xưởng, cần nhiều thiết bị thi công và tăng chi phí quản lý thi công.
Phương pháp thi công lắp ghép: có ưu điểm thời gian thi công nhanh và việc đúc bê tông không cần yêu cầu về trình tự cho nên rút ngắn được thời gianthi công cho công trình, chất lượng bê tông được đảm bảo vì được bảo dưỡng trong nhà xưởng, giảm được vật liệu và thiết bị tại công trường. Nhưng nhược điểm là chất lượng mối nối thi công và các mặt cắt tại mối nối là nơi xung yếu, yêu cầu khi đúc sẵn phải chính xác mới lắp ráp được và khối bê tông móng là kém đồng nhất. MÓNG CỌC CÓ ĐƯỜNG KÍNH NHỎ Móng cọc gồm hai bộ phận chính: Cọc là bộ phận chủ yếu có tác dụng truyền tải trọng từ công trình bên trên thông qua bệ cọc xuống nền đất dưới mũi cọc và xung quanh cọc. Bệ cọc là bộ phận liên kết các cọc thành một khối, truyền tải trọng từ công trình xuống cọc và nâng đỡ công trình bên trên.
Ưu điểm của móng cọc là ổn định tốt, kết cấu tương đối đơn giản; khả năng chịu được công trình bên trên là tương đối lớn do mũi cọc thường được đặt vào lớp đất tốt; công nghệ thi công phổ biến có thể cơ giới hóa việc thi công, giá thành rẻ. Nhược điểm của móng cọc đường kính nhỏ làkhông thể kéo dài cọc theo ý muốn của người thiết kế do cọc đường kính nhỏ bị hạn chế về độ mảnh (thường lấy tỷ số lc/d = 30~70, đặc biệt tỷ số này có thể lên đến 100).Để đảm bảo các cọc có thể hạ đến chiều sâu thiết kế và không xảy ra hiệu ứng nhóm cọc, thì khoảng cách tối thiểu các tim cọc > 3d (d: là đường kính cọc) do đó 10 kích thước bệ thường phải mở rộng dẫn đến tốn vật liệu nếu tải trọng công trình bên trên mà lớn thì dẫn đến số lượng cọc rất lớn thì càng phải mở rộng bệ cọc nhiều.Đối với cọc bê tông đường kính nhỏ thì cốt thép bố trí trong cọc chủ yếu phục vụ quá trình vận chuyển, cẩu cọc và nhất là quá trình đóng cọc vì lực xung kích rất lớn khi đóng, vì vậy không tận dụng hết được vật liệu trong quá trình khai thác dẫn đến lãng phí vật liệu.Khả năng chịu lực ngang kém do đó những công trình có lực đẩy ngang lớn tác dụng thì sử dụng cọc đường kính nhỏ là không hiệu quả do cọc hay bị gãy hay biến dạng khi chịu tác dụng của lực ngang.Trong quá trình thi công cọc thì riêng thời gian đúc cọc, cẩu, vận chuyển, hàn mối nối đốt cọc đã chiếm 60~80 thời gian thi công móng do đó thường kéo dài thời gian thi công công trình.