phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình chiết khấu dòng tiền trong các quyết định đầu tư tài sản dài hạn. Chƣơng 2: Thực trạng đầu tư tài sản dài hạn tại Công ty xây dựng công trình hàng không. Chƣơng 3: Ứng dụng mô hình chiết khấu dòng tiền trong các quyết định đầu tư tài sản dài hạn tại Công ty xây dựng công trình hàng không.khong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.khong CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔ HÌNH CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN TRONG CÁC QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƢ TÀI SẢN DÀI HẠN 1. Khái quát chung về tài sản dài hạn và các quyết định đầu tƣ tài sản dài hạn 1.
Khái niệm tài sản dài hạn Cho đến nay, có thể quan sát về tài sản dài hạn dưới góc độ kế toán và tài sản dài hạn dưới góc độ tài chính. Dưới góc độ của kế toán, dựa vào bảng cân đối kế toán thì tài sản dài hạn bao gồm: Tài sản cố định (hữu hình, vô hình, thuê tài chính), bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư dài hạn khác). * Tài sản cố định (TSCĐ): - TSCĐ hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình (chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó, nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy, có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên, có giá trị theo quy định hiện hành từ 10.000 đồng trở lên). - TSCĐ vô hình là tài sản không có hình thái vật chất, nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh (SXKD), cung cấp dịch vụ hoặc cho đối tượng khác thuê, phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
- TSCĐ thuê tài chính: là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê.khong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.khong Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Riêng trường hợp thuê tài sản là quyền sử dụng đất thì được phân loại là thuê hoạt động. * Bất động sản đầu tƣ : Bất động sản đầu tư bao gồm các loại tài sản như quyền sử dụng đất, nhà, cơ sở hạ tầng (thuê hoặc mua). Các loại tài sản này nhà đầu tư mua (hoặc thuê) để kinh doanh bằng việc bán (hoặc cho thuê lại) trong dài hạn để thu lợi.
Như vậy bất động sản đầu tư không bao gồm những bất động sản mua bán kinh doanh ngay trong kỳ kế toán hay để sử dụng cho hoạt động SXKD. * Đầu tƣ tài chính dài hạn : Đầu tư tài chính dài hạn bao gồm: Đầu tư vào công ty con (đầu tư vào công ty con dưới hình thức mua cổ phiếu, góp vốn bằng tiền, tài sản khác vào công ty con), đầu tư vào công ty liên kết (đầu tư vào công ty liên kết dưới hình thức mua cổ phiếu hoặc góp vốn bằng tiền, bằng vật tư, hàng hóa, TSCĐ), đầu tư góp vốn liên doanh (góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng vật tư, hàng hóa, bằng TSCĐ), đầu tư dài hạn khác (cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư dài hạn khác). Đối với hoạt động đầu tư tài chính dài hạn thì việc góp vốn bằng tiền thì chỉ cần ghi nhận giá trị góp vốn bằng tiền, việc góp vốn bằng tài sản hoặc vật tư hoặc TSCĐ thì chỉ cần đánh giá lại tài sản và ghi nhận giá trị góp vốn sau khi đánh giá lại), quan trọng hơn đầu tư tài chính là việc xác định giá trị cổ phiếu, trái phiếu khi đầu tư mua cổ phiếu và trái phiếu. Vì vậy, trong giới hạn của luận văn tác giả chỉ đề cập đến việc sử dụng mô hình chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị cổ phiếu, trái phiếu khi đầu tư.
Trước tiên, tìm hiểu sâu khái niệm về cổ phiếu, trái phiếu: - Cổ phiếu là chứng chỉ pháp lý xác nhận phần vốn góp của chủ sở hữu vào các công ty cổ phần, và các chủ sở hữu này được gọi là cổ đông. Các cổ đông có thể kiếm lợi tức từ cổ phiếu theo hai cách sau : công ty chi trả cổ tức từ lợi nhuận sau thuế, giá cổ phiếu tăng lên theo thời gian. Tuy nhiên, nếu công ty 7 (LUAN.khong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.khong bị lỗ, giải thể hoặc phá sản thì cổ đông phải cùng nhau chia sẻ thiệt hại. Cổ phiếu thường rủi ro hơn trái phiếu vì có sự ưu tiên thấp hơn khi công ty gặp khó khăn, nhưng lại có quyền bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị và quyết định những vấn đề nhất định như là sửa đổi điều lệ công ty và việc có nên phát hành cổ phần mới hay không.
Những cổ đông mua cổ phiếu để kinh doanh dài hạn trên một năm hoặc là đầu tư góp vốn thường là đầu tư dài hạn. Có hai loại cổ phiếu: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Phân biệt hai loại cổ phiếu này giúp nhà đầu tư hiểu rõ quyền lợi nghĩa vụ đi kèm để xem xét đầu tư. + Cổ phiếu phổ thông: Cổ phiếu phổ thông được quyền bỏ phiếu, được chia cổ tức.
Cổ đông phổ thông có thể biểu quyết tất cả các vấn đề tác động đến tài sản của công ty như một tổng thể, như sáp nhập, thanh lý, hay là phát hành cổ phần mới, biểu quyết lựa chọn hội đồng quản trị của công ty, được quyền mua cổ phần mới (nếu phát hành) theo tỷ lệ sở hữu để duy trì tỷ lệ sở hữu của họ. Tuy nhiên nếu công ty bị phá sản thì cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên nhận khoản nợ của họ trước, sau đó mới đến cổ phiếu phổ thông. + Cổ phiếu ưu đãi: Cổ phiếu ưu đãi có những đặc tính của cả trái phiếu và cổ phiếu. Cổ phiếu ưu đãi được một khoản cổ tức cố định nên một cổ phiếu ưu đãi giống như một trái phiếu, giá cổ phiếu ưu đãi cũng tương đối ổn định.
Cổ đông ưu đãi thường không có quyền bỏ phiếu, trừ khi công ty không trả được khoản cổ tức đã cam kết. Cổ đông ưu đãi nắm giữ một quyền đòi đối với tài sản có thứ tự ưu tiên cao hơn quyền đòi của cổ đông phổ thông nhưng thấp hơn quyền đòi của các chủ nợ (người nắm giữ trái phiếu). Cổ tức trên cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ tức trên cổ phiếu phổ thông, không phải là một khoản chi tiêu được giảm thuế, lợi tức được trả hàng năm trong nhiều năm, có những loại cổ phiếu ưu đãi không có thời gian đáo hạn, nên những đặc tính này của cổ phiếu ưu đãi giống với cổ phiếu phổ thông. Do việc phát hành cổ phiếu ưu đãi tốn kém hơn cho công ty so với việc phát hành nợ (lãi trái phiếu 8 (LUAN.khong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.khong được giảm thuế), vì thế các công ty đều có kế hoạch thanh lý cổ phiếu ưu đãi của họ, mặc dù nó thường không ấn định thời hạn.
- Trái phiếu là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn và có trả lãi do một tổ chức (nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng.) phát hành nhằm huy động tiền từ nền kinh tế để đầu tư phát triển theo quy định, người nắm giữ trái phiếu được gọi là trái chủ và được hưởng một khoản lãi cố định. Như vậy, trái phiếu là những chứng khoán thể hiện một món nợ mà người phát hành vay người đầu tư. Trái phiếu ấn định cho người phát hành nghĩa vụ phải trả một số tiền xác định tại một thời điểm xác định, thường là kèm theo những khoản lãi được thanh toán định kỳ. Mệnh giá của trái phiếu là số lượng tiền mà người vay phải trả cho người cho vay tại thời điểm trái phiếu đáo hạn.
Lãi suất cuống phiếu là mức lãi tính trên mệnh giá mà người phát hành phải trả hàng năm, thường được cố định trong khoảng thời gian tồn tại của trái phiếu và không giao động theo lãi suất thị trường. Có nhiều loại trái phiếu, nhưng tại Việt Nam có thể nhóm chung như sau: trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị. + Trái phiếu chính phủ : do Bộ tài chính phát hành dưới các hình thức như tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc. Trong đó, tín phiếu kho bạc nhà nước là trái phiếu ngắn hạn, trái phiếu kho bạc Nhà nước là loại trái phiếu trung hạn và dài hạn phát hành để tăng ngân sách Nhà nước.
Trái phiếu Kho Bạc thường được coi là không có rủi ro vỡ nợ song không phải là không có rủi ro vì khi lãi suất thị trường tăng lên thì giá trái phiếu sẽ giảm xuống. Lãi suất của trái phiếu Kho Bạc thường thấp vì nó không có rủi ro vỡ nợ nhưng vẫn cao hơn lãi suất của các chứng khoán trên thị trường tiền tệ do có rủi ro lãi suất. + Trái phiếu công ty là chứng chỉ vay nợ do công ty cổ phần phát hành để vay vốn của quần chúng trong thời gian dài để tăng vốn hoạt động. Mức độ rủi ro của trái phiếu công ty phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty và do vậy lãi suất của trái phiếu công ty cũng thay đổi theo mức độ rủi ro.khong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.khong + Trái phiếu đô thị: là trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho những dự án mang lại lợi ích công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình công ích hay hệ thống giao thông.
Trái phiếu đô thị có rủi ro vỡ nợ khi nguồn thu từ công trình đó không đủ để hoàn trả. Dưới góc độ tài chính, thì tài sản dài hạn bao gồm tài sản tài chính dài hạn và tài sản cố định dài hạn. * Tài sản tài chính dài hạn bao gồm các chứng khoán dài hạn như trái phiếu và cổ phiếu. Khi thừa vốn giám đốc tài chính công ty quan tâm tới tài sản tài chính dưới góc độ nhà đầu tư.
* Tài sản cố định dài hạn thường gặp ở doanh nghiệp là các dự án đầu tư vốn nói chung và đầu tư vào tài sản cố định nói riêng.