Chương 1. Tống quan về mô hình thủy động lực và vận chuyền trầm tích 1. Các nghiên của nước ngoài Vận chuyền trầm tích được nghiên cứu từ rất sớm như ở Trung Quốc cô đại, Lương Hà, Hy Lạp và Đề quốc La Mã. Nghiên cứu bằng phương pháp lý thuyết và thực nghiệm sớm nhất được thực hiện bởi nhà khoa học DuBuat (1738-1809) người Pháp.
Ông xác định vận tốc dòng chảy gây ra xói mòn đáy, trong đó có xem xét đến sự khác nhau của vật liệu đáy. DuBuat đã phát triển khái niệm ma sát trượt. Hagen (1797-1884) người Đức và Dupuit (1804-1866) người Pháp mô tả về chuyên động dọc theo đáy và chuyên động lơ lửng của trầm tích. Brahms (1753) đề xuất một công thức tính vận tốc tới hạn trên đáy với vật liệu là đá.
Công thức vận tải day đầu tiên dựa vào độ dốc và độ sâu được DuBoys (1847-1924) người Pháp đề xuất, Ông khái quát quá trình vận chuyên như chuyên động của các hạt tram tích trong một loạt các lớp. Đến khoảng năm 1900, mô hình biến đổi đáy đầu tiên được Fargue (1827- 1910) người Pháp và Reynolds (1892-1912) người Anh xây dựng. Cơ sở nghiên cứu vận chuyền trầm tích trong các máng thí nghiệm được bắt đầu bởi Engels (1854- 1945) người Đức và Gilbert (1843-1918) người Mỹ. Lý thuyết vận chuyền tram tích được viết bởi Forchheimer (1852-1933) và Schoklitsch (1888-1969) người Đức.
Đến năm 1914, phát triển phương trình tích ứng suất trượt đáy tới hạn (bắt đầu chuyển động của một hạt) theo chiều doc của đáy dốc. Phương trình tương tự cho một hạt dừng chuyển động theo chiều ngang một đáy dốc được Leiner đề xuất năm 1912. Năm 1936, Shields có một đóng góp quan trọng liên quan đến ứng suất trượt đáy tới hạn cho sự khởi đầu chuyển động của các hạt trầm tích. Các đường cong được dé xuất gọi là đường cong “Shislds”.
Các nghiên cứu đâu tiên liên quan đên động lực học chât lỏng và vận chuyên bùn cát được thực hiện bởi Bagnold năm 1936, 1937. Đến năm 1950, Einstein và các cộng sự nhờ vào sự phát triển của năng lực tính toán, biến các mô hình toán vận chuyền bùn cát thành một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực khoa hoc ven biển. Apmann và Ralph R. Rumer nghiên cứu quá trình phát tán các hạt trầm tính do khuếch tán rối trong dòng chảy bất đồng nhất dựa trên mô hình toán.
Thí nghiệm được tiến hành trong một máng dài với 3 lớp trầm tích. Hệ số khuếch tan được xác định là một hàm của đặc trưng trầm tích và vận tốc dòng chảy. Một trong những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến điều kiện bùn lỏng được thực hiện bởi Einstein va Chien năm 1955, hai quá trình kết bông và có kết đáy đã được nghiên cứu. Tác giả đã nhận định rằng độ mặn tối thiểu 1%o là giới hạn khởi đầu cho quá trình kết bông.
Odd và Owen, 1972 sử dụng mô hình ID xem xét tốc độ xói mòn và lắng đọng dựa trên công thức đề xuất của Krone 1962 và Partheniades 1965. Smith và Kirby, 1989 đã ứng dung các mô hình 1D dé mô phỏng vận chuyền bùn cát và thay đổi hình thái quy mô lớn ở các sông De Vries, trong kênh thủy triều Dyer va Evans, mô phỏng quá trình hình thành “lutocline” ở các cửa sông Ross và Mehta. Năm 1971, O'Connor trình bay mô hình 2D tích phân theo độ sâu. Ariathurai va Krone, 1976 đã trình bay một mô hình phan tử hữu hạn áp dụng các yếu tô hình tam giác với một xấp xỉ bậc hai cho nồng độ và phương pháp trọng số thặng dư Galerkian.
Mô hình sử dụng các công thức cô điển xác định quá trình xói mòn và lắng đọng trầm tích. Quá trình keo tụ được tính toán băng cách xác định vận tốc chim lắng trên mỗi phan tử lưới là một hàm của thời gian. Mulder và Udink 1991 áp dụng mô hình 2D cho cửa sông Western Scheldt có tính đến thủy triều và sóng gid. Mô hình giải một phương trình cân bằng tác động phổ, nội suy độ cao và chu kỳ sóng tính toán theo các thời kỳ triều khác nhau để xác định vận tốc quỹ đạo và thành phần ứng suất trượt đáy do sóng.
Sử dụng các công thức thực nghiệm để tính toán xói mòn và lăng đọng trầm tích và sử dụng các giá trị đồng nhất cho ứng suất trượt tới hạn của quá trình xói mòn, lăng đọng và vận tôc chìm lăng. 10 Li và cộng sự, 1994 phát triển mô hình 2DV tích hợp giữa mô hình thủy động lực học và mô hình vận chuyển bùn cát cho cửa sông Gironde nước Pháp, trong đó có sử dụng mô hình khép kín rối để tính hệ số nhớt rối và hệ số khuếch tán, mô hình có tính đến quá trình trao đổi tram tính đáy. Năm 2002, Wen-Cheng Liu, Ming-Hsi Hsu và Albert Y. Kuo áp dụng mô hình hai chiều trung bình độ sâu nghiên cứu đặc điểm thủy động lực và vận chuyền bùn cát lơ lửng trong cửa sông của hệ thong sông Tanshui Rivers, Đài Loan.
Beckers, 1991, trong một nghiên cứu dòng chảy tổng hợp vùng biển Tây Địa Trung Hải trong điều kiện mùa đông điển hình băng mô hình GHER-3D, cho rằng mô hình có thé khôi phục các quá trình vật ly và xu hướng chính của dòng chảy tổng hợp trong khu vực. Năm 1994, Beckers và cộng sự nghiên cứu thủy động lực học vùng biển Tây Địa Trung Hải bằng mô hình 3D. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng 2 mô hình: mô hình “metagnostic” (định hướng hệ thống) và mô hình chuẩn đoán (định hướng quá trình), được chạy đồng thời và có tính đến tương tác. Nghiên cứu chỉ ra quá câu trúc va sự bat ôn định cua dong Algeria.
O'Connor và Nicholson, 1988 cung cấp một mô hình 3D đầy đủ, bao gồm một mô hình vận chuyền bùn lỏng, có tính đến sự kết bông và cố kết. Katopodi và Ribberink 1992 đã phát triển một mô hình tựa 3D cho vận chuyên bùn cát lơ lửng trên cơ sở của phương trình bình lưu khuếch tán cho dòng chảy và sóng, phân tích độ nhạy của các tham số sóng và dòng chảy. Năm 1994, Leonor Cancino và Ramiro Neves mô tả và ứng dụng hệ thống mô hình thuỷ động lực và vận chuyên trầm tích 3D (dạng nghiêng áp, sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn). Mô hình thủy động lực dựa trên xấp xỉ thuỷ tĩnh và xấp xỉ Boussinesq, sử dung tọa độ sigma kép cho chiều thăng đứng với lưới so le và sơ đồ bán ân bậc hai.
Ngoài phương trình động lượng và phương trình liên tục, mô hình giải hai phương trình vận chuyền nhiệt độ, độ muối và một phương trình trạng II thái có tính đến hiệu ứng nghiêng áp. Mô phỏng quá trình vận chuyền trầm tích gắn kết được thực hiện bằng cách giải các phương trình bảo toàn, bình lưu - khuếch tán 3D, trong cùng một lưới sử dụng trong mô hình thủy động lực. Qúa trình cố kết, xói mòn và lắng đọng của trầm tích được biểu diễn bang các công thức thực nghiệm. Các mô hình đã được thử nghiệm và hiệu chỉnh bằng cách mô phỏng dòng triều và vận chuyển bùn cát lơ lửng ở các cửa sông.
Hai ứng dụng ở cửa sông Western Scheldt (Hà Lan) và Gironde (Pháp) cho thấy sự phù hợp tốt giữa kết quả tính toán và đo đạc thực địa. Năm 2003, Changsheng Chen và Hedong Liu phát triển mô hình 3D tính hoàn lưu khu vực ven biên và cửa sông. Mô hình dựa trên hệ phương trình nguyên thủy 3 chiều gồm các phương trình động lượng, liên tục, nhiệt, muối, mật độ và sử dụng mô hình khép kín rỗi bậc 2,5 của Mellor va Yamada. Mô hình sử dụng hệ tọa độ chuyền đổi sigma cho phương thắng đứng, phương ngang sử dụng lưới cấu trúc hình tam giác.
Mô hình toán sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn, thể tích hữu hạn và phần tử hữu hạn. Mô hình đã được áp dụng cho biển Bột Hải, cửa sông Satilla River. Pandoe va Billy L. Edge ứng dung mô hình ADCIRC-3D tính toán dong chảy va vận chuyền bùn cát doc bờ biển vịnh Mexico và dọc bờ biển Texas, kết quả cho thấy mô hình cho kết quả tốt khi áp dụng cho các khu vực cửa sông có độ dôc nhỏ.
Hu phát triển mô hình tính toán vận chuyên trầm tích cho vùng cửa sông Pearl River (vịnh Lingding). Mô hình sử dung kỹ thuật tách dé giải các phương trình chủ đạo: giải các số hạng bình lưu bằng phương pháp Eulerian-Lagrangian, sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn cho các số hạng khuếch tán theo phương ngang và phương pháp sai phân hữu hạn cho số hạng khuếch tán theo phương thăng đứng. Sơ đồ khép kín rối bậc 2,5 của Mellor- Yamada được sử dụng kết hợp đề xác định tham số nhớt rối thắng đứng. 12 Guy Simpsona, Sebastien Castelltort, 2005 trình bay mô hình coupled giữa mô hình dòng chảy mặt, vận chuyên trầm tích và diễn biến hình thái.
Mô hình sử dụng các phương trình nước nông cho dòng chảy, bảo toàn nồng độ trầm tích, hàm thực nghiệm cho ma sát đáy, xói mòn và lắng đọng. Quá trình xói mòn và lắng đọng được xử lý độc lập và tác động đến thông lượng trầm tích thông qua trao đổi vuông góc với biên đáy của dòng chảy. Harris va Hernan G. Arangoc phát triển mô hình 3D couple sóng, dòng chảy và vận chuyển bùn cát bang công cu MCT (Model Coupling Toolkit) va áp dụng tính toán cho vịnh Massachusetts.
Mô hình là sự kết hợp giữa mô hình hoàn lưu ven biển ROM v3.0 và mô hình tinh sóng vùng nước nông SWAN. Ứng suất sóng 2 chiều được đưa vào phương trình động lượng, cùng với hiệu ứng của sóng mặt. Vận chuyền trầm tích được xem xét trong nhiều lớp, mỗi lớp có các đặc điểm riêng như đường kính hạt, mật độ, vận tốc lắng đọng, ứng suất tới hạn cho quá trình xói mòn. Vận chuyên trầm tích lơ lửng trong cột nước được tính giống thuật toán bình lưu khéch tán và bổ sung thuận toán giải theo chiều thăng đứng mà không phụ thuộc vào tiêu chuén CFL.
Ngoài ra, còn có mô hình lớp biên đáy tính toán tương tác sóng - dòng chảy, làm tăng ứng suất đáy, tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển trầm tích và làm tăng ma sat day, tạo ra tác động ngược trở lại dòng chảy. Năm 2008, Idris Mandang va Tetsuo Yanagi 4p dụng mô hình 3D ECOMSED được phát triển bởi HydroQual (2002) vào tính toán vận chuyền tram tích khu vực cửa sông Mahakam, phía Đông Kalimantan, Indonesia. Mô hình có sử dụng phép xấp xỉ Bousinesq và xấp xi thủy tĩnh. Mô phỏng qúa trình vận chuyển tram tích dựa trên cơ sở giải đồng thời các phương trình bình lưu — khuếch tán — bảo toàn 3 chiêu.