Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu mã vạch ADN cho bảo tồn và chọn tạo giống cây trồng

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích nghiên cứu xây dựng mã vạch adn của một số nguồn gen cây trồng có giá trị kinh tế nhằm phục vụ công, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

236
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, CHỌN TẠO GIỐNG

1.1.1. Các đối tượng nghiên cứu

1.1.2. Công tác bảo tồn và chọn tạo giống

1.2. NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ

1.3. KHÁI NIỆM VỀ MÃ VẠCH ADN VÀ HỆ THỐNG GIẢI TRÌNH TỰ GEN THẾ HỆ MỚI

1.3.1. Khái niệm về mã vạch ADN

1.3.2. Các gen được sử dụng xây dựng hệ thống mã vạch ADN phổ biến

1.3.3. Hệ thống giải trình tự gen thế hệ mới được sử dụng cho mã vạch ADN mở rộng

1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG MÃ VẠCH ADN

1.4.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng mã vạch ADN trên thế giới

1.4.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng mã vạch ADN ở Việt Nam

1.4.3. Một số kết quả ứng dụng mã vạch ADN trong công tác bảo tồn và chọn tạo giống

1.5. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

1.5.1.1. Các nguồn gen nghiên cứu
1.5.1.2. Các chỉ thị phân tử
1.5.1.3. Các bộ kit và mồi dùng cho giải trình tự GBS

1.5.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.5.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.3.1. Phương pháp tách chiết ADN
1.5.3.2. Phương pháp đánh giá đa dạng di truyền bằng chỉ thị EST-SSR, SCoT
1.5.3.3. Phương pháp xây dựng mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen rbcL và matK
1.5.3.4. Phương pháp xây dựng mã vạch ADN mở rộng dựa trên SNP bằng công nghệ GBS

1.5.4. PHẦN MỀM XỬ LÝ SỐ LIỆU

1.5.5. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

1.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1.6.1. ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG DI TRUYỀN VÀ LỰA CHỌN MẪU ĐẠI DIỆN CÁC NGUỒN GEN NGHIÊN CỨU BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ

1.6.1.1. Đánh giá đa dạng di truyền và lựa chọn mẫu đại diện các giống bưởi bằng chỉ thị EST-SSR
1.6.1.2. Đánh giá đa dạng di truyền và lựa chọn mẫu đại diện nguồn gen chuối, nhãn, vải bằng chỉ thị SCoT

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÃ VẠCH ADN DỰA TRÊN TRÌNH TỰ VÙNG GEN rbcL CHO MỘT SỐ NGUỒN GEN NGHIÊN CỨU

2.1. Xây dựng mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen rbcL của các giống bưởi đại diện

2.2. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen rbcL của các giống chuối đại diện

2.3. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen rbcL của các giống nhãn đại diện

2.4. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen rbcL của các giống vải đại diện

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MÃ VẠCH ADN DỰA TRÊN VÙNG GEN MATK CHO MỘT SỐ NGUỒN GEN NGHIÊN CỨU

3.1. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen matK của các giống bưởi đại diện

3.2. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen matK của các giống chuối đại diện

3.3. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen matK của các giống nhãn đại diện

3.4. Phân tích mã vạch ADN dựa trên trình tự vùng gen matK của các giống vải đại diện

4. CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG MÃ VẠCH ADN MỞ RỘNG DỰA TRÊN SNP BẰNG CÔNG NGHỆ GBS CHO MỘT SỐ NGUỒN GEN NGHIÊN CỨU

4.1. Xây dựng mã vạch ADN mở rộng dựa trên SNP bằng công nghệ GBS cho các giống bưởi nghiên cứu

4.2. Xây dựng mã vạch ADN mở rộng dựa trên SNP bằng công nghệ GBS cho các giống nhãn nghiên cứu

4.3. Xây dựng mã vạch ADN mở rộng dựa trên SNP bằng công nghệ GBS cho các giống vải nghiên cứu

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tham khảo Tiếng Việt

2. Tài liệu tham khảo Tiếng Anh

3. Các website tham khảo

PHỤ LỤC BẢNG SỐ LIỆU

PHỤ LỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mã vạch ADN

Mã vạch ADN (mã vạch ADN) là một công cụ quan trọng trong việc nhận dạng và phân loại các loài sinh vật. Phương pháp này sử dụng các đoạn ADN đặc trưng để xác định danh tính của các loài thực vật, động vật và vi sinh vật. Trong nghiên cứu này, mã vạch ADN được áp dụng cho các nguồn gen cây trồng có giá trị kinh tế, nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và chọn giống. Việc sử dụng mã vạch ADN giúp tăng cường độ chính xác trong việc nhận diện các giống cây, đồng thời giảm thiểu sai sót do các yếu tố môi trường gây ra. Theo nghiên cứu, mã vạch ADN không chỉ giúp nhận diện mà còn hỗ trợ trong việc đánh giá đa dạng di truyền của các giống cây trồng, từ đó có thể đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

1.1. Khái niệm và ứng dụng của mã vạch ADN

Khái niệm về mã vạch ADN được định nghĩa là các đoạn ADN ngắn, thường là từ 600 đến 800 nucleotide, được sử dụng để phân loại và nhận diện các loài. Ứng dụng của mã vạch ADN trong nông nghiệp rất đa dạng, từ việc xác định nguồn gốc giống cây trồng đến việc phát hiện các giống cây mới. Việc áp dụng công nghệ này trong nghiên cứu di truyền cây trồng không chỉ giúp bảo tồn nguồn gen mà còn hỗ trợ trong việc cải thiện chất lượng giống cây. Nghiên cứu cho thấy rằng mã vạch ADN có thể được sử dụng để theo dõi sự phát triển và biến đổi của các giống cây trồng theo thời gian, từ đó giúp các nhà khoa học đưa ra các quyết định chính xác hơn trong công tác bảo tồn và phát triển giống cây.

II. Giá trị kinh tế của cây trồng

Cây trồng có giá trị kinh tế cao đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp của Việt Nam. Các giống cây như bưởi, chuối, nhãn và vải không chỉ cung cấp thực phẩm mà còn tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân. Việc bảo tồn và phát triển các giống cây này là cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học và đảm bảo an ninh lương thực. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng mã vạch ADN trong việc xác định và phân loại các giống cây trồng có thể giúp nâng cao giá trị kinh tế của chúng. Bằng cách xác định chính xác nguồn gốc và chất lượng của giống cây, nông dân có thể tối ưu hóa quy trình sản xuất và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

2.1. Tác động của bảo tồn cây trồng đến kinh tế

Bảo tồn cây trồng không chỉ giúp duy trì nguồn gen mà còn có tác động tích cực đến kinh tế địa phương. Việc bảo tồn các giống cây đặc sản giúp tạo ra các sản phẩm nông sản chất lượng cao, từ đó thu hút khách du lịch và tăng cường giá trị thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng các giống cây được bảo tồn có thể mang lại lợi nhuận cao hơn so với các giống cây thông thường. Điều này không chỉ giúp nâng cao đời sống của nông dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp Việt Nam.

III. Công nghệ sinh học trong bảo tồn và chọn giống

Công nghệ sinh học, đặc biệt là trong lĩnh vực di truyền cây trồng, đã mở ra nhiều cơ hội mới cho việc bảo tồn và phát triển giống cây. Việc áp dụng các phương pháp như phân tích ADN, đánh giá đa dạng di truyền và xây dựng mã vạch ADN đã giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn về cấu trúc di truyền của các giống cây. Công nghệ sinh học không chỉ giúp cải thiện chất lượng giống mà còn hỗ trợ trong việc phát hiện và bảo tồn các giống cây quý hiếm. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng công nghệ sinh học trong bảo tồn cây trồng có thể giúp tăng cường khả năng chống chịu với các điều kiện môi trường khắc nghiệt, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.1. Ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn giống

Công nghệ sinh học đã được áp dụng rộng rãi trong việc chọn giống cây trồng. Các phương pháp như chọn lọc di truyền, tạo giống mới thông qua kỹ thuật biến đổi gen và sử dụng mã vạch ADN đã giúp nâng cao hiệu quả trong việc phát triển giống cây. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ sinh học trong chọn giống không chỉ giúp cải thiện năng suất mà còn tăng cường khả năng chống chịu với sâu bệnh và điều kiện khí hậu bất lợi. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, khi mà các giống cây truyền thống có thể không còn phù hợp với điều kiện môi trường mới.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, CHỌN TẠO GIỐNG 1. Các đối tượng nghiên cứu 1.

Cây bưởi Cây bưởi có tên khoa học là Citrus maxima (Burm. hay Citrus grandis L. Osbeck, nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau đây: Thuộc Ngành: Hạt kín Angiospermae Thuộc Lớp: Hai lá mầm (Ngọc Lan) Dicotyledonae (Magnoliopsida) Thuộc Bộ: Bồ Hòn Sapindales Thuộc Họ: Cam Rutaceae Thuộc Họ phụ: Aurantioideae Thuộc Chi: Cam Citrus Loài: Bưởi Citrus maxima Chi Citrus là một chi lớn nằm trong họ Rutaceae. Họ này có 150 chi và 2000 loài, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Ở nước ta hiện biết được 23 chi và 105 loài (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Theo sơ đồ phân loại cây có múi của Swingle (1948) thì có hai loài bưởi khác nhau trong chi Citrus là bưởi Citrus grandis L. Osbeck (ở miền Bắc nước ta có bưởi Phúc Trạch - Hà Tĩnh, bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ, bưởi Thanh Trà - Huế, bưởi Phú Diễn - Hà Nội., ở các tỉnh phía Nam có bưởi Ổi, bưởi Năm Roi, bưởi Da xanh…) và bưởi chùm Citrus paradisi Macf. Hàng năm trên thế giới vẫn sản xuất cả hai loại bưởi chùm và bưởi, chiếm 5,4 - 5,6% tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 2/3 sản lượng).

Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu và được dùng cho chế biến nước quả. Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam… được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu (Lương Thị Kim Oanh, 2011). Theo số liệu 4 luan an thống kê của FAO, tính đến năm 2018, diện tích trồng cây bưởi trên thế giới đã được mở rộng lên đến 3 3. 35 ha; năng suất bình quân đạt 25,1 tấn/ha và sản lượng hơn 9.

Riêng tại Châu Á, Việt Nam có diện tích trồng bưởi đứng thứ 2 sau Trung Quốc và chiếm 23,11% diện tích trồng bưởi toàn thế giới đạt 86. Trước đây, bưởi ở Việt Nam chủ yếu được sử dụng ăn tươi và sản xuất bưởi của nước ta chỉ đủ để cung cấp cho thị trường trong nước. Một vài năm gần đây đã có một số công ty đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng theo GAP, đăng ký thương hiệu một số giống bưởi ngon ở nước ta như Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch, với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và đứng đầu giá trị xuất khẩu trong các cây ăn quả có múi. * Một số giống bưởi trên thế giới: Trên thế giới, bưởi được trồng chủ yếu ở các nước Châu Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Việt nam, Philippine, Malaysia… Ở Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan….

Các giống bưởi nổi tiếng của Trung Quốc được biết đến là bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê…. Ở Đài Loan có giống nổi tiếng là bưởi Văn Đán, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không có hạt, chất lượng rất tốt, được nhiều người ưa chuộng. Ở Thái Lan, tập đoàn giống bưởi cũng rất phong phú, các giống phổ biến trong sản xuất trồng ở các tỉnh miền Trung như Nakkon Pathom, Samut Sakhon, Samut Songkhram, Khao nhan phung, Khao kheaw, Khao Jeeb, Tubtim, Sai Nam Phung…. Một số giống khác như Khao Tangkwa, Som Krun, Khao Udom Sook và Manorom được trồng ở Chai Nat và Nakhon Sawan; giống Khao Uthai là giống đặc sản của tỉnh Uthai Thani; giống Takhoi và Som Pol được trồng phổ biến ở Phichit; giống Pattavia chỉ trồng ở vùng phía Nam như ở tỉnh Surat Thani, Songkhla, Narathiwat và Pattani.

Ở Philippine, các giống bưởi đều là các giống nhập nội từ Trung Quốc, Thái Lan… như giống Khao phuang từ Thái Lan, Amoy và Sunkiluk gốc Trung Quốc, chỉ có giống Fortich là giống địa phương. 5 luan an Ở Malaysia có 24 giống bưởi được trồng phổ biến trong sản xuất, bao gồm cả giống trong nước và nhập nội. Một số giống nổi tiếng như Large red fleshed pomelo, Pomelo China. Ở Ấn Độ, bưởi được trồng chủ yếu ở các vườn gia đình thuộc bang Assam và một số bang khác.

Một số giống được biết đến là Dowali. Nowgong, Burni, Gagar, Zemabawk, Jorhat, Khanpara, Kamrup, Khasi, Bor Taga, Hukma Tanga, Holong Tanga, Jamia Tanga và Aijal. Tại Việt Nam, tập đoàn bưởi rất đa dạng, nhiều nguồn gen quý, nhiều giống có tiềm năng xuất khẩu với giá trị kinh tế cao. Nhiều giống có những phẩm vị cũng như chất lượng rất ngon được người dân chọn lựa mang về trồng đã trở thành giống đặc sản của mỗi vùng miền như: Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Diễn, bưởi Đỏ (Hà Nội), bưởi Thanh Trà (Huế), bưởi Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Da Xanh (Bến Tre), bưởi Đường Lá Cam (Đồng Nai), bưởi Lông Cổ Cò (Tiền Giang), bưởi Ổi, bưởi Da Láng (Vĩnh Long), bưởi Luận Văn (Thanh Hóa) (Lê Tiến Hùng, 2016).

Cây chuối Cây chuối có tên khoa học là Musa spp., nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau đây: Thuộc Ngành: Hạt kín Angiospermae Thuộc Lớp: Một lá mầm (Hành) Monocotyledoneae (Liliopsida) Thuộc Bộ: Gừng Zingiberales Thuộc Họ: Chuối Musaceae Thuộc Chi: Chuối Musa Loài: Chuối Musa Năm 194 , Cheesman đã chia chi chuối thành bốn phần dựa theo số nhiễm sắc thể và đặc điểm hình thái trong nhóm. Cheesman chia các loài với 11 cặp nhiễm sắc thể thành hai phần là Eumusa và Rhodochlamys. Các loài với 10 cặp nhiễm sắc thể thành hai phần Australimusa và Callimusa (Cheesman, 1947). Năm 19 , George Argen đã bổ sung thêm vào chi chuối phần Ingentimusa, với 1 loài duy nhất 6 luan an Musa ingens có 7 cặp nhiễm sắc thể (Argent và cs, 1976).

Đến năm 2013, nhà thực vật học người Hà Lan - Markku Hakkinen đã sắp xếp lại phân loại chi chuối. Các phần Australimusa và Ingentimusa được sát nhập vào phần Callimusa và giữ tên là Callimusa. Phần Eumusa được sát nhập với Rhodochlamys và đổi tên thành Musa. Lúc này, phần Musa bao gồm 33 loài (M.lacteria…) và Callimusa bao gồm 37 loài (M.

Theo hệ thống phân loại của Simmonds và cs (1955), tùy thuộc vào cách sắp xếp bộ nhiễm sắc thể, chuối được phân thành các nhóm: Lưỡng bội: 2x (AA, BB, AB); Tam bội: 3x (AAA, AAB, ABB, BBB); Tứ bội: 4x (ABBB). Đến năm 2010, thì hệ gen chuối được các nhà khoa học chia thành các loại: AA, AAA, AAAA, BB, BBB, AB, AAB, ABB, ABBB, AS, AT, AAT, ABBT và chưa rõ (Nayar, 2010). Ở Việt Nam, theo Trần Thế Tục (1998), các giống chuối chính ở miền Bắc nước ta được xếp vào năm nhóm sau: nhóm chuối tiêu (tiêu lùn, tiêu nhỏ, tiêu cao); nhóm chuối tây (chuối tây, tây hồng, tây phấn); nhóm chuối ngốp (ngốp cao, ngốp thấp); chuối ngự (chuối ngự tiến, ngự mắn…); chuối bom. Theo những báo cáo về cây ăn quả Việt Nam của FAO (2004) thì cho rằng chuối nước ta chỉ có các dạng AA, BB, AAA, AAB, ABB.

Tuy nhiên, trong dữ liệu các giống chuối của nước ta tại Promusa, giống chuối Gao (tên tiếng anh: Tiparot) đã được phát hiện ở dạng tứ bội ABBB, và các giống chuối Ngự, chuối Mật, chuối Sáp, chuối Ngộp có hệ gen tam bội BBB (Valmayor và cs, 2002). Như vậy, theo dữ liệu Promusa (Bananas cultivar checklist), chuối ở Việt Nam được phân nhóm theo hệ gen như sau: nhóm có hệ gen AA (chuối trứng, chuối ngự…); nhóm có hệ gen AAA (chuối và hương, chuối tiêu…); nhóm có hệ gen AAB (chuối goong, chuối trăm nải…); nhóm có hệ gen ABB (chuối tây, chuối ngốp cao…); nhóm có hệ gen ABBB (chuối gáo); nhóm có hệ gen BBB (chuối ngốp dùi đục, chuối sáp). Tuy nhiên, mặc dù kết hợp nhiều hệ thống, phân loại và nhận dạng các giống chuối dựa trên kiểu hình rất phức tạp và vẫn tồn các dạng chuối khó phân loại. Cho đến nay, các phương pháp phân tích genome hiện đại dựa trên các loại chỉ thị phân 7 luan an tử trong và ngoài hệ gen đầy hứa hẹn cải thiện được cách nhận dạng và phân loại chuối.

Trên thế giới, chuối là loại cây nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia và vùng miền, đồng thời cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong thương mại rau quả toàn cầu. Diện tích trồng chuối trên thế giới trong những năm gần đây có sự biến động không đáng kể. Tính đến năm 2018, diện tích trồng chuối hơn 5, triệu ha đạt sản lượng trên 115 triệu tấn (FAO, 2018). Ở nước ta, chuối là loại trái cây có diện tích và sản lượng cao.

Tính đến năm 2018, diện tích trồng chuối của Việt Nam đạt 128.508 ha, vươn lên đứng thứ 4 châu Á, sau Ấn Độ (884.000 ha), Trung Quốc (383.216 ha) và Philippine (484. Về xuất khẩu, chuối đứng đầu về khối lượng và đứng thứ hai về kim ngạch, sau cam trong cơ cấu xuất khẩu trái cây của thế giới. Cùng với gạo, lúa mỳ, ngũ cốc, chuối cũng là một trong số những mặt hàng chủ lực của nhiều nước đang phát triển. Theo thống kê của FAO, năm 200 , khối lượng xuất khẩu chuối của thế giới đạt khoảng 16,8 trệu tấn, bằng 1/5 tổng sản lượng với giá trị xuất khẩu khoảng 5,8 tỷ USD, trong đó các nước Mỹ La Tinh và cùng Caribe cung cấp khoảng 70% khối lượng xuất khẩu chuối của thế giới.

Các quốc gia dẫn đầu xuất khẩu chuối là Ecuado, Costa Rica, Philipin và Colombia, trong đó riêng Ecuador chiếm tới 64% khối lượng chuối xuất khẩu của 4 nước này và cung cấp tới 30% lượng chuối xuất khẩu toàn cầu. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu chuối tăng mạnh. Thay vì chỉ phụ thuộc vào thị trường chính là Trung Quốc thì đã có hàng loạt các đơn hàng nhập khẩu chuối đến tử Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước EU, Nga, Quatar…. * Một số giống chuối trên thế giới: Hiện nay, Viện Nghiên cứu chuối Đài Loan và Trung tâm Nghiên cứu chuối Ấn Độ đang lưu giữ trên 2.000 dòng/giống chuối khác nhau để làm nguồn vật liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống.

Một số giống chuối được sử dụng rộng rãi tại các nước trên thế giới là: 8 luan an Giống Dwarf Cavendish, được tìm thấy tại Trung Quốc, hiện nay được phát triển tại Trung Quốc cũng như các nước ở khu vực Châu Phi. Giống này có chiều cao cây khoảng 1,2 - 2,1m, chất lượng tốt, nhưng hạn chế là quả nhỏ nên năng suất không cao. Giống Bluggoe, là một trong những giống kháng với bệnh Panama và Sigatoka, đây là giống chuối chủ lực của các nước Thái Lan, Nam Ấn Độ, Châu Phi và Philipin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu mã vạch ADN cho bảo tồn và chọn tạo giống cây trồng" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan, dưới sự hướng dẫn của Tiến Sĩ Nguyễn Thị Thanh Thủy và Phó Giáo Sư, Tiến Sĩ Lã Tuấn Nghĩa, được thực hiện tại Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng công nghệ mã vạch ADN trong việc bảo tồn và phát triển giống cây trồng có giá trị kinh tế, từ đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về di truyền và chọn giống cây trồng mà còn mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu nâng cao năng suất chất lượng lúa kháng bệnh bạc lá bằng phương pháp đột biến và chỉ thị phân tử", nơi nghiên cứu về các phương pháp cải thiện giống lúa, hay "Nghiên cứu và chọn tạo giống hoa lay ơn gladiolus sp chất lượng cao", một nghiên cứu về chọn giống cây trồng. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến di truyền và chọn giống cây trồng, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp hiện đại.