CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT VE LY HON 1. Một số khái niệm chung về ly hôn 1. Khai niệm ly hôn Khi cuộc hôn nhân không còn giữ được ý nghĩa như ban đầu, việc ly hôn là cần thiết để giải phóng cho vợ, chồng khỏi những mâu thuẫn sâu sắc mà họ không thé tự giải quyết được. Theo Lê-nin: “7c ra tur do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng có những moi liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” bởi bản chất ly hôn “chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc sống hôn nhân này là cuộc sống hôn nhân đã chết, sự tôn tại của nó chỉ là bê ngoài và lừa doi.
Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhán, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đã biết, việc xác nhận sự kiện chết tùy thuộc vào thực chất của vấn dé, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan’.' Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng việc giải quyết ly hôn là tất yếu khi quan hệ hôn nhân tôn tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ. Tuy nhiên, ly hôn không thê tiễn hành một cách tùy tiện mà phải đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước bởi ly hôn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các con cũng như lợi ích xã hội. Việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng và trong các công trình nghiên cứu đã có nhiêu khái niệm về ly hôn được dua ra. Mác(1978), “Bản dự luật về li hôn”, C.
Angghen toàn tập, Tap 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 220 7 Về mặt ngôn ngữ, giáo sư Nguyễn Lân định nghĩa: “Li hôn là vợ chong bỏ nhau””. Đây là một cách hiểu thông thường, đơn giản nhưng không mang tính pháp lý bởi việc vợ chồng bỏ nhau không đương nhiên được công nhận là đã ly hôn.
Dưới góc độ pháp lý, theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp thì “Li hôn là chấm dứt quan hệ vợ chong do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu cẩu của vợ hoặc chỗng hoặc cả hai vợ chồng.” Day là định nghĩa thé hiện được bản chất pháp lý của ly hôn, xác định ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, cơ quan có thâm quyền giải quyết là Tòa án và chủ thể có quyền yêu cầu là vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Đứng trên quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa Mác — Lênin, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có những quy định cụ thể về ly hôn. Khoản 8 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Ly hôn là cham đứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cẩu của vợ hoặc chong hoặc cả hai vợ chồng”. Khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân va gia đình năm 2014 quy định “Ly hồn là việc chấm đứt quan hệ vợ chông theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Có thé nhận thay hai cách định nghĩa này về bản chất pháp lý là giống nhau, tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, theo đó, không chỉ vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn. Các khái niệm về ly hôn mang tính pháp lý tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình về vấn đề ly hôn cũng như các vấn đề phát sinh khác từ ly hôn. Theo tác giả, có thể đưa ra khái niệm ly hôn như sau: “Ly hôn là sự kiện pháp lý làm cham dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án trên cơ sở căn cứ ly hôn theo luật định. ” ? Nguyễn Lân (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb.Toéng hợp TP.Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1057 3 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp (2006), Tir điền Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.
Khái niệm quyên ly hôn Quyền ly hôn là quyền con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 36: “ Nam, nữ có quyên kết hôn, ly hôn”. Khi mục đích hôn nhân mà cả hai vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng hướng đến không đạt được, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung thì vợ, chồng có quyền ly hôn. Trong pháp luật dân sự, Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyên kết hôn, ly hôn.” và quyền ly hôn là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyên giao cho người khác theo quy định tại Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2015. Như vậy, chỉ những người là vợ chồng hợp pháp của nhau mới có quyền ly hôn.
Quyên ly hôn khác với quyền yêu cầu ly hôn, quyền ly hôn là quyền tự nhiên có ngay từ khi vợ chồng kết hôn, là quyền dân sự tuyệt đối không bị hạn ché, bat kê chủ thé nào cũng có quyên ly hôn cho di có hay không có đủ năng lực hành vi dân sự. Có thé hiểu “guyên ly hôn là quyên được cham dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật của vợ, chong”. Khái niệm căn cứ ly hôn Trong xã hội có giai cấp, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân phải phù hợp với ý chí Nhà nước, trong đó quy định những điều kiện xác lập quan hệ hôn nhân và những điều kiện, căn cứ chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Pháp luật cua Nhà nước tư sản coi hôn nhân như một hợp đồng dân sự nên việc chấm dứt hôn nhân cũng như chấm dứt hợp đồng và dựa vào lỗi của các bên. Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa giải quyết ly hôn dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng, trên cơ sở đánh giá một cách khách quan. Như vậy, căn cứ ly hôn do Nhà nước quy định, phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước cầm quyên và phản ánh bản chất của giai cấp thống trị. Quan hệ hôn nhân không những liên quan đến lợi ích riêng tư của vợ, chông, gia đình mà còn ảnh hưởng đên lợi ích chung của nhà nước, xã hội; do 9 vậy, ý chí của vợ, chồng không phải là điều kiện quyết định dé cham dứt quan hệ hôn nhân.
Pháp luật ghi nhận vợ chồng có quyền tự do ly hôn nhưng không phải tự do một cách tùy tiện mà phải đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước. Tòa án là cơ quan duy nhất có thâm quyền ra phán quyết bang ban án hoặc quyết định chấm dứt quan hệ vợ chồng: Tòa án giải quyết ly hôn phải dựa trên cơ sở những dấu hiệu trong căn cứ luật định. Biểu hiện ra bên ngoài của quan hệ vợ chồng tan vỡ rất đa dạng, cần căn cứ vào nhiều biéu hiện khác nhau để xem xét, đánh giá khách quan tình trạng hôn nhân. Có thể đưa ra khái niệm căn cứ ly hôn như sau: Căn cứ ly hôn là những tình tiết, điều kiện do pháp luật quy định mà khi có những tình tiết, điều kiện đó thì Tòa án mới ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc ra bản án ly hôn.
Khai niệm hậu qua pháp lý của ly hôn Việc Tòa án xét xử cho ly hôn theo yêu cầu của một bên hoặc công nhận thuận tình ly hôn sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định cho vợ chồng, con cái. Do đó, trong quá trình giải quyết, Tòa án phải đánh giá một cách khách quan, công băng để đưa ra phán quyết và các bên liên quan phải có trách nhiệm tôn trọng phán quyết đó. Về mặt pháp lý, khi Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn sẽ dẫn tới các hậu quả sau: + Quan hệ vợ chồng về nhân thân được chấm dứt. + Tài sản chung của vợ chồng chấm dứt.
Tài sản chung được chia cho mỗi bên vợ, chồng và trở thành tài sản riêng của mỗi người. + Nếu vợ chồng đã có con chung thì phải giải quyết việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mat năng lực hành vi dân sự và cấp dưỡng nuôi con. +Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn được đặt ra nếu một bên vợ hoặc chồng khó khăn, túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng. Có thê hiểu: “Hậu quả pháp lý của ly hôn là những nội dung sự việc mà Tòa án phải giải quyết khi xét xử cho vợ chong ly hôn, bao gom: Chấm dứt quan hệ vợ chong trước pháp luật; chia tài sản chung cua vợ chông, xác định 10 người trực tiép nuôi con và mức cap dưỡng; giải quyết việc cáp dưỡng giữa vợ chong khi có yêu cau.
Quyền yêu cầu ly hôn 1. Quyên yêu cầu ly hôn của vợ, chong Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cau ly hôn dé chấm dứt quan hệ hôn nhân. Trên cơ sở kế thừa các luật hôn nhân và gia đình trước, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn tại Khoản I Điều 51: “Vo, chong hoặc cả hai người có quyển yêu cau Tòa án giải quyết ly hôn”. Khi vợ chồng nhận thức rõ ràng về tình trạng hôn nhân đã tram trọng và không thé tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Trường hợp vợ, chồng cùng yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; trường hợp một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên. Sự tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân; ké cả khi cuộc song hôn nhân không hạnh phúc nhưng cả hai vợ chồng không muốn ly hôn thì không ai có quyền buộc họ phải ly hôn.