Đặt vấn đề Việt Nam là nƣớc có nền công nghiệp chế biến gỗ đang phát triển, năm 2015 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và đồ gỗ đạt khoảng 6,3 tỷ đô la đóng góp khoảng 5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc, từ đó đã tạo ra hàng triệu việc làm cho xã hội, góp phần giải quyết lao động trong nông nghiệp và nông thôn. Hiện nay việc áp dụng cơ giới hóa trong chế biến lâm sản nói chung và trong sản xuất đồ mộc là rất cao, tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa vào trong sản xuất đồ mộc ở một số cơ sở sản xuất đạt 90-95%, hầu hết các khâu sản xuất quan trọng, nặng nhọc điều đã áp dụng cơ giới hóa nhƣ khâu xẻ ván, xẻ thanh, khâu bào, đục mộng, đánh nhẵn, sơn phủ. Tuy nhiên việc áp dụng các thiết bị cơ giới hóa trong chế biến gỗ ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, thiết bị có năng suất và chất lƣợng thấp tiêu tốn nhiều điện năng, tốn nhiều công lao động, nhiều thiết bị máy móc chƣa phù hợp với đối tƣờng Năm 2016 Bộ khoa học và Công nghệ đã giao cho trƣờng Đại học Lâm nghiệp chủ trì đề tài cấp quốc gia về "Nghiên cứu thiết kế chế tạo dây chuyền thiết bị xẻ gỗ tự động" nhằm nâng cao năng suất và chất lƣợng ván xẻ, nâng cao tỷ lệ thành khí và giảm chi phí lao động. Dây chuyền xẻ gỗ tự động là dây chuyền mới đƣợc thiết kế, chế tạo tại Việt Nam, do vậy cần phải có nghiên cứu tính toán lựa chọn các thiết bị trong hệ thống để tạo ra dây chuyền có năng suất cao, chất lƣợng cao, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Xẻ lại là khâu công việc trong dây chuyền xẻ gỗ tự động, thiết bị xẻ lại có nhiều loại, xong việc áp dụng loại thiết bị nào cho năng suất và chất lƣợng sản phẩm cao cần thiết phải có nghiên cứu lựa chọn toàn diện, có nhƣ vậy thì mới tạo ra dây chuyền đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra. 2 Hiện nay trong các dây chuyền xẻ gỗ tự động trên thế giới có dây chuyền sử dụng thiết bị rọc rìa là cƣa đĩa, có dây chuyển sử dụng thiết bị rọc rìa lại là cƣa vòng đứng nhỏ. Việc lựa chọn loại thiết bị nào, thông số kỹ thuật của thiết bị nhƣ thế nào cho phù hợp là rất cần thiết phải có nghiên cứu lựa chọn. Xuất phát từ lý do nêu trên tôi đã chọn và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn thiết bị rọc rìa trong dây chuyền xẻ gỗ tự động" 2.
Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng cơ sở lý luận cho việc lựa chọn thiết bị xẻ lại, từ đó lựa chọn đƣợc loại cƣa hợp lý để xẻ lại trong dây chuyền xẻ gỗ tự động. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu lựa chọn thiết bị xẻ lại trong dây chuyền xẻ gỗ tự động là một vấn đề rộng và cần thời gian dài, trong đề tài này chỉ giới hạn các nội dung sau đây: - Thiết bị nghiên cứu: Là một số loại cƣa xẻ lại hiện đang sử dụng tại địa phƣơng và ở Việt Nam, không lựa chọn hết các loại cƣa có ở trên thế giới và khó có điều kiện áp dụng ở Việt Nam. - Đối tượng của quá trình xẻ: Đề tài không nghiên cứu thực nghiệm tất cả các loại gỗ hiện có ở Việt Nam , mà chỉ tập trung nghiên cứu thực nghiệm ở loại gỗ có khối lƣợng lớn, nhập khẩu về Việt Nam nhiều. - Địa điểm nghiên cứu: Đề tài không có điều kiện thí nghiệm ở nhiều nơi mà chỉ thí nghiệm ở các xƣởng sản xuất ở Hòa Bình.
Nội dung nghiên cứu Với phạm vi nghiên cứu đã trình bày ở phần trên, để đạt đƣợc mục tiêu của đề tài đặt ra, luận văn tập trung giải quyết những nội dung sau: a) Nghiên cứu lý thuyết - Xây dựng chỉ tiêu để lựa chọn thiết bị xẻ lại trong dây chuyền xẻ gỗ tự động 3 - Thiết lập các hàm mục tiêu để lựa chọn thiết bị xẻ lại. - Giải bài toán tối ƣu để lựa chọn thiết bị xẻ lại hợp lý. b) Nghiên cứu thực nghiệm - Điều tra khảo sát về tình hình xẻ gỗ ở Việt Nam; - Điều tra khảo sát một số loại máy móc phục vụ xẻ lại gỗ ở Việt Nam - Thực nghiệm xác định một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của một số loại thiết bị sử dụng để xẻ lại. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát về tình hình chế biến gỗ ở Việt Nam Trong những năm qua, ngành công nghiệp chế biến gỗ đã có bƣớc phát triển vƣợt bậc, kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng 30-40%, đã đƣa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Lãnh đạo Hiệp hội Gỗ-Lâm sản Việt Nam (VFA) cho biết, năm 2000 cả nƣớc mới chỉ có 741 doanh nghiệp chế biến gỗ lâm sản, đến nay tăng lên 3. Ngoài ra, cả nƣớc còn có hơn 340 làng nghề với hàng vạn hộ gia đình, cơ sở chế biến gỗ. Việt Nam đã hình thành một số trung tâm chế biến, xuất khẩu gỗ lớn nhƣ TPHCM, Bình Dƣơng, Bình Định, Đồng Nai… Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô đa phần là nhỏ.
Theo nguồn gốc vốn thì 5% số doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nƣớc, 95% còn lại là thuộc khu vực tƣ nhân, trong đó có 16% có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI). Về lao động, ngành công nghiệp chế biến gỗ chiếm khoảng từ 250. Trong đó, 10% lao động có trình độ đại học trở lên; 45-50% lao động thƣờng xuyên đƣợc đào tạo, còn lại 35 - 40% lao động giản đơn theo mùa vụ. Mặc dù số lƣợng lao động trong ngành chế biến gỗ rất lớn nhƣng đa số lao động chƣa đƣợc đào tạo bài bản, hoạt động thiếu chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó, sự phân công lao động chƣa hợp lý, giám sát, quản lý vẫn còn thiếu hiệu quả đang là những vẫn đề nổi cộm hiện nay. Năng suất lao động trong ngành chế biến gỗ ở Việt Nam còn thấp: Bằng 50% của Philippines, 40% năng suất lao động của Trung Quốc và chỉ bằng 20% năng suất lao động của Liên minh Châu Âu (EU). Với hiện trạng lao động nhƣ hiện tại, vấn đề đào tạo và bổ sung nguồn nhân lực có kỹ thuật cao, có khả năng sử dụng tốt các công nghệ hiện đại trong sản xuất là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với ngành hàng chế biến gỗ. 5 Về công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam hiện đang phân theo 4 cấp độ: nhóm các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp lớn và vừa sản xuất sản phẩm xuất khẩu, nhóm các doanh nghiệp sản xuất ván nhân tạo, nhóm các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ mỹ nghệ.
Nhìn chung trong thời gian qua các doanh nghiệp chế biến gỗ đã có một số nỗ lực trong cải tiến công nghệ sử dụng trong chế biến gỗ. Nhiều công nghệ mới, hiện đại nhƣ công nghệ xử lý biến tính gỗ, tạo các vật liệu composite gỗ cũng đã đƣợc đầu tƣ vào Việt Nam. Tuy nhiên, những công nghệ này cần mức đầu tƣ tƣơng đối lớn, vƣợt quá khả năng của doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm thu về 6,9 tỷ USD, tăng 10,71% so với năm 2014.
Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,2-7,3 tỉ USD, tốc độ tăng trƣởng khoảng 8-10%. Là thị trƣờng đứng thứ 7 trong bảng xếp hạng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2015 đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (7/24 mặt hàng), đã thu về 6,9 tỷ USD, tăng 10,71% so với năm 2014, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan Việt Nam. Mặt hàng gỗ và sản phẩm của Việt Nam đã có mặt tại 37 quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là thị trƣờng đạt kim ngạch cao nhất 2,6 tỷ USD, chiếm 38,2% tổng kim ngạch, tăng 18,22%.
Đứng thứ hai là thị trƣờng Nhật Bản, tăng 9,50% đạt trên 1 tỷ USD. Tuy có vị trí thuận lợi trong việc giao thƣơng hàng hóa nhƣng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Trung Quốc chỉ đứng thứ ba trong bảng xếp hạng, đạt 982,6 triệu USD, tăng 12,72% so với năm 2014. Nhìn chung, năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm sang các thị trƣờng đều có tốc độ tăng trƣởng dƣơng, số thị trƣờng này chiếm 56,7%, trong đó xuất sang thị trƣờng Thái Lan tăng trƣởng mạnh vƣợt trội, tăng 49,3%, kế đến là thị trƣờng Mehico tăng 36,79%, Saudi Arabia tăng 34,42%. Ngƣợc lại, số 6 thị trƣờng có tốc độ tăng trƣởng âm chỉ chiếm 43,2% và xuất khẩu sang thị trƣờng Séc, Áo, Thụy Sỹ giảm mạnh, giảm lần lƣợt 71,30%; 50,28% và 43,88% tƣơng ứng với kim ngạch 745,5 nghìn USD; 1,4 triệu USD và 2,4 triệu USD.
Qua phân tích cho thấy, năm 2015, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Đức, Italy. Theo nhận định của Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA), xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vƣợt trội hơn so với nhiều ngành hàng chủ lực khác. Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,2-7,3 tỉ USD, tốc độ tăng trƣởng khoảng 8-10%. Trong khi đó, với thị trƣờng trong nƣớc, đồ gỗ đã làm chủ đƣợc sân nhà.
Nếu nhƣ nhiều năm qua, ngành gỗ và thủ công mỹ nghệ tập trung xuất khẩu các sản phẩm chế biến sử dụng nhiều lao động, thì nay nhiều doanh nghiệp đã có nhận thức tạo giá trị gia tăng khác nhƣ đầu vào thiết kế phát triển sản phẩm, gia tăng hàm lƣợng công nghệ thiết bị-vật liệu trong chế biến, nâng cao kỹ năng quản lý, dịch vụ, bán hàng… Với nhiều tiềm năng và nỗ lực, ngành chế biến gỗ, lâm sản trở thành một trong những ngành có giá trị xuất khẩu hàng đầu Việt Nam. Đặc biệt, xuất khẩu gỗ sẽ rộng đƣờng tăng trƣởng hơn khi dự kiến cuối năm nay, Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về tăng cƣờng thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thƣơng mại lâm sản (FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) sẽ hoàn tất đàm phán và ký kết. Đây đƣợc đánh giá là cơ hội lớn cho ngành gỗ Việt Nam mở rộng và giữ vững thị trƣờng xuất khẩu. EU là thị trƣờng rất tiềm năng cho sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Tuy nhiên, để xuất khẩu gỗ sang thị trƣờng này cần có những tiêu chuẩn khắt khe.