Nghiên Cứu Về Lớp Vị Từ Có Hai Cách Dùng Nội Động Và Ngoại Động

Khóa luận phân tích vị từ trong ngữ văn với hai cách dùng nội động và ngoại động, cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngữ nghĩa và ngữ pháp.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

1999-2003

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DẪN NHẬP

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Vị từ

1.2. Tham tố - diễn tố - chu tố

1.3. Bổ ngữ và các loại bổ ngữ

1.4. Phân loại vị từ

2. CHƯƠNG 2: CÁC TIỂU LOẠI CỦA LỚP VỊ TỪ CÓ HAI CÁCH DÙNG NỘI ĐỘNG VÀ NGOẠI ĐỘNG

2.1. Các tiểu loại đối lập theo tiêu chí: thay đổi ý nghĩa từ vựng có tính chất không đồng loạt và thay đổi ý nghĩa từ vựng theo qui tắc có tính chất đồng loạt

2.2. Các tiểu loại đối lập theo tiêu chí: có khả năng thêm bị/được và không có khả năng thêm bị/được

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LỚP VỊ TỪ CÓ HAI CÁCH DÙNG NỘI ĐỘNG VÀ NGOẠI ĐỘNG

3.1. Cấu trúc Đề - Thuyết

3.2. Không có sự phân biệt hình thức giữa dạng thức ngữ pháp chủ động và bị động

3.3. Mối liên quan

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Lớp Vị Từ Trong Tiếng Việt

Lớp vị từ trong tiếng Việt bao gồm động từ và tính từ, là những thành phần ngữ pháp quan trọng. Vị từ có thể được phân loại thành nội động và ngoại động, tùy thuộc vào cách sử dụng và bổ ngữ đi kèm. Việc hiểu rõ về lớp vị từ này giúp người học nắm bắt được cấu trúc ngữ pháp và cách diễn đạt trong tiếng Việt.

1.1. Khái Niệm Về Vị Từ Trong Tiếng Việt

Vị từ là thành phần trung tâm trong câu, thể hiện nội dung của sự thể. Nó có thể là động từ hoặc tính từ, và có vai trò quyết định trong việc xác định cấu trúc ngữ nghĩa của câu.

1.2. Phân Loại Vị Từ Nội Động và Ngoại Động

Vị từ được phân loại thành nội động và ngoại động dựa trên khả năng có hay không có bổ ngữ trực tiếp. Nội động không yêu cầu bổ ngữ, trong khi ngoại động cần có bổ ngữ để hoàn thiện nghĩa.

II. Vấn Đề Trong Nghiên Cứu Lớp Vị Từ Có Hai Cách Dùng

Mặc dù lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động đã được đề cập trong nhiều tài liệu, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ. Các nhà nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích ngữ nghĩa và ngữ pháp của lớp vị từ này.

2.1. Thách Thức Trong Việc Phân Loại Vị Từ

Việc phân loại vị từ thành nội động và ngoại động gặp khó khăn do sự không rõ ràng trong ranh giới giữa hai loại. Nhiều vị từ có thể được sử dụng linh hoạt trong cả hai cách.

2.2. Thiếu Sót Trong Tài Liệu Nghiên Cứu

Nhiều tài liệu chỉ đề cập sơ lược về lớp vị từ này mà không đi sâu vào phân tích. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin cho người học và nghiên cứu.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Lớp Vị Từ Có Hai Cách Dùng

Nghiên cứu lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này giúp phân tích đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị từ một cách chi tiết.

3.1. Phương Pháp Miêu Tả Đặc Điểm Ngữ Pháp

Phương pháp miêu tả được sử dụng để khảo sát và phân tích các đặc điểm ngữ pháp của lớp vị từ, từ đó xác định các tiêu chí phân loại.

3.2. Phương Pháp Thống Kê Dữ Liệu

Phương pháp thống kê giúp phân tích đặc điểm của lớp vị từ từ góc độ định lượng, cung cấp cái nhìn tổng quan về tần suất và cách sử dụng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Vị Từ

Nghiên cứu về lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc dạy và học tiếng Việt. Việc hiểu rõ cách sử dụng vị từ giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp.

4.1. Tăng Cường Hiệu Quả Dạy Học Tiếng Việt

Nghiên cứu này giúp giáo viên và học sinh hiểu rõ hơn về cách sử dụng vị từ, từ đó cải thiện kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp.

4.2. Hỗ Trợ Trong Công Tác Dịch Thuật

Việc nắm vững lớp vị từ có hai cách dùng sẽ hỗ trợ các dịch giả trong việc chuyển ngữ chính xác và tự nhiên hơn.

V. Kết Luận Về Lớp Vị Từ Trong Tiếng Việt

Lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong ngôn ngữ học tiếng Việt. Việc hiểu rõ về lớp vị từ này không chỉ giúp nâng cao kiến thức ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc phát triển ngữ pháp tiếng Việt.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Vị Từ

Nghiên cứu về lớp vị từ cần được tiếp tục mở rộng để làm rõ hơn các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp, từ đó đóng góp vào kho tàng tri thức ngôn ngữ học.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Sâu Hơn

Cần khuyến khích các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và phân tích lớp vị từ này để làm phong phú thêm tài liệu học thuật và ứng dụng thực tiễn.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngữ văn lớp vị từ có hai cách dùng nội động và ngoại động

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1, Vj từ Câu tiếng Việt được cấu tạo bởi hai thành phần nòng cốt : Dé và Thuyết. Ngữ vị từ , thường nằm ở phần Thuyết, là thành phần nòng cốt biểu hiện nội dung của sự thể được thông báo trong câu. Ngữ vị từ là ngữ chính phụ có trung tâm là vị từ. Cấu tạo của ngữ vị từ được sách giáo khoa trình bày thành hai mô hình — một của cụm động từ và một của cụm tính từ.

Ta có mô hình TRUNG TÂM Trong mô hình cấu tạo trên, trung tâm là vị từ, Nếu ngữ vị từ biểu hiện nội dung của sự tình thì vị từ biểu thị cái lõi của sự tình. Vi từ là loại thực từ có thể làm trung tâm một ngữ vi từ. Nguyễn Thị Qui (1995) trong cuốn “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó” đã viết : “Nghĩa của các vị từ có một tác dụng quyết định đối với ngữ pháp của câu”. Tác giả cũng đưa ra dẫn chứng cụ thể: Trong một sự thể như “một cuộc tìm kiếm”, nội KHOA NGỮ VĂN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 15 SVT „NGUY dung của sự thể là hành động “tìm”, hành động này phải có ít nhất hai “nhân vật” tham gia mới thành được : người tìm và người (hay vat) được tìm.

Trong "một cuộc biếu ting”, phải có ít nhất ba tham tố (khái niệm tham tố sẽ được trình bày ở phần sau = mục 1.2 ) : người cho, vật đem cho và người nhận. Trong "một cuộc chạy”, chỉ cẩn có một (hay những) người làm cái việc chạy là được, không cẩn có những tham tố mới thành được cái sự thể gọi là "cuộc chạy”. Nhưng trong một hành động gọi là “đến”, ngoài người đến phải có nơi đến nữa mới hình thành được cái sự thể được gọi là như thế. Như vậy nghĩa của các vị từ thể hiện các sự thể như “tim, cho, chạy, đến” đều qui định cái khung những tham tố có mặt trong sự thể và do đó cũng qui định cấu trúc nghĩa của toàn câu, vốn là mục đích diễn đạt của cú pháp.

Ta có thể kết luận : nghĩa của vị từ qui định cấu trúc ngữ nghĩa — ngữ pháp của toàn câu, 1. Tham tố - diễn tố - chu tố 1.1,Tham tố: Những sự tình được thông báo, các hiển ngôn, hàm ngôn đều phải trực tiếp hay gián tiếp dựa vào câu mà biểu hiện. Mỗi từ ngữ, mỗi thành phần chức năng trong câu đều có vai trò của nó, nhưng có thể nói hạt nhân của câu là cái khung ngữ vị gồm vị từ trung tâm và các tham tố của nó. KHOA NGỮ VAN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 l6 Như vậy, "có thể hiểu tham tố của vị từ là những yếu tố tham gia cùng với vị từ tạo nên ýnghĩa của câu.

Nói một cách trừu tượng hơn, có thể hình dung nội dung (nghĩa biểu hiện) của câu như một "cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn ra trên sân khấu. Cái cảnh ấy có một nội dung nhất định: trên sân khấu thấy hiện ra một quang cảnh nào đấy (một sự tình tĩnh), hay diễn ra một sự việc nào đấy (một sự tình động). Một vị từ có thể có một tham tố hay nhiều tham tố tùy theo nghĩa của vị từ đó. Nghĩa của vị từ qui định khung tham tố của nó, tức là số lượng và tính chất của các tham tố chỉ các vai nghĩa tham gia vào cái sự tình được biểu hiện bằng câu, trong đó có vị ngữ mà nó làm trung tâm.

Ví dụ: Tôi ăn cơm bằng đãa. qd (@) @) Có ba tham tố tham gia cấu thành nên khung ngữ vị từ : |.Trong đó (3) là tham tố không bat buộc. Cdn (1) và (2) là những tham tố bắt buộc Xét ví dụ khác ta sẽ thấy rõ hơn. Nó mua quyển sách _ở nhà sách Nguyễn Văn Cừ.

(1) (2) (3) KHOA NGU VAN, DHSP TP HCM, 1999-2003 17 Tham tố (1)’, (2) là hai tham tố bất buộc. “Mua” là vị từ trung tâm qui định cái khung của ngữ vị từ. Ta thử bỏ đi tham tố (2), câu văn sẽ trở thành: Nó mua ở nhà sách Nguyễn Văn Cừ. Người đọc sẽ không hiểu được nội dung thông báo của câu văn trên là gì.

Nó mua cái gì? Trả lời cho câu này chính là phần trọng tâm, phần thông tin cần thiết mà người đọc cần bieÝ. Nếu đặt câu nói trên vào một ngữ cảnh cụ thể thì lại khác. Chẳng hạn: A~— Nó mua quyển sách đó ở đâu? B~ Nó mua ở nhà sách Nguyễn Văn Cv. Trong ngữ cảnh trên, tham tố "quyển sách” được ẩn đi, nói cách khác đây là cách nói tỉnh lược.

Người đọc vẫn hiểu câu trả lời sẽ là: “Nó mua quyển sách ở nhà sách Nguyễn Văn Cir” Mặt khác nếu ta bỏ đi tham tố (3): “Ở nhà sách Nguyễn Van Cừ” thì người đọc vẫn hiểu nội dung cần thông báo. Như vậy, các tham tố của vị từ gồm hai loại: tham tố bắt buộc và tham tố không bat buộc. Những tham tố bắt buộc phải có để cái sự tình được biểu hiện trong câu có thể được thực hiện : đó là các diễn tố. Ngược lại, có những tham tố có thể không xuất hiện trong ngữ vị từ vì những vai nghĩa mà các tham tố ấy biểu hiện không nhất thiết phải có mặt để cho cái sự tình ấy có thể được thực hiện.

Đó là các chu tố. KHOA NGU VĂN, DHSP TP HCM, 1999-2003 18 : NGUYÊN ' GVHD : TS. BÙI MANH HUNG 1.2 Diễn tố: Diễn tố, như đã nói ở trên, là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung ngữ vị từ như một nhân vật được giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đi thì cái sự tinh hữu quan không thể được thực hiện, không còn là nó nữa. Tổng số các dién tố của một vị từ làm thành diễn trị (hay khung diễn tố ) của nó.

Chẳng hạn, trong một sự tình được gọi là "đánh", phải có người đánh và người hoặc vật bị đánh. Trong một sự tình được gọi là “tang”. phải có một người tặng, người được tặng và một cái gì đó đem tặng. Hoặc một cảnh “ngủ”, phải có người (hay vật) rơi vào trang thái “ngủ” ấy.

Những yếu tố cần phải có trong sự tình được gọi là "đánh"”, “tang”, "ngủ `, Diễn tố của một vị từ có thể tường minh hay hàm ẩn là tuỳ thuộc vào ngữ cảnh mà sự tinh được dat vào. Chẳng hạn xét trong một ngữ cảnh sau: _ Me : Con nấu cơm chita? _ Con : Con nấu rồi. Ở đây diễn tố “com” không được nói ra trong câu nhưng đặt trong ngữ cảnh trên người nghe (đọc) vẫn hiểu “con nấu cơm rồi”. Một vị từ có thể có một hay nhiều diễn tố, các diễn tố của vi từ trong một câu dù không được nói hết ra thì người nghe hay người ———.____ Thay fue, Hs w we E ce 8 hy yya = : | oc.

Ễ Sy KHOA NGU VAN, DHSP TP HCM, 1999-2003 19 đọc đều phải hiểu là các diễn tố đó đều có mặt trong sự tình. Ta xét một ví dụ khác: _A: Mày cho nó quyển sách ấy rồi a? _B: Cho rồi. Trong sự tình được gọi là “cho”, phải có một người cho, một người nhận, và một cái gì đó được đem cho. Nhưng ở câu trả lời "cho rồi ”, diễn tố | “người cho”, diễn tố 2 “vật đem cho”, và diễn tố 3 "người nhận” đều không thấy nói đến.

Tuy vị từ được dùng một mình (với từ chỉ thể "rổi"), người nghe vẫn hiểu là có người nào đó mang mét quyển sách nào đó cho một người nào đó. Tác giả của cuốn "Ngữ pháp chức năng tiếng Việt” (quyển | ~ "Câu trong tiếng Việt") đã đưa ra những vi dụ rất cụ thể về các diễn tố tham gia trong các sự tình được diễn đạt bằng những câu cu thể. Trong sự tình được diễn đạt bằng câu : Nam cho em bé cái kẹo, cái khung ngữ vị từ ấy được tác giả phân tích như sau: Diễn tố 1: | Lõi của sự tình: | Diễn tố 2: “Cho” là một vị từ có 3 diễn tố. Có những vị từ có 2 diễn tố: KHOA NGU VĂN, DHSP TP HCM, 1999-2003 20 Lõi của sv tình: Diễn tố 2: đích quá trình Có những vị từ có thể có một diễn tố: trạng thái quá trình Các túc gid của cuốn “DE án chương trình môn tiếng Việt ở trường phổ thông (từ lớp 1 đến lớp 12)” cũng đưa ra vài ví dụ cơ bản về diễn tố của vị từ, trong đó có nêu lên một vài vị từ không có một tham tố bắt buộc, hay nói cách khác là không có diễn tố.

Họ gọi những vị từ này là những vị từ vô trị. ˆ Vị từ vô trị: (“v6 nhân xưng” hay “không vai”) không có tham tố bat buộc nào (không có diễn tố): mua, lạnh, ổn, sớm, muộn trong những câu như: lạnh Hôm qua mưa, Khuya lắm, On quá! Muộn lắm réi! Những câu này không có chủ dé (hôm qua, khuya đều là những khung dé). Chủ để thường là một diễn tố. Khung để bao giờ cũng là những chu tố, ngay cả khi nó là một DN (chứ không phải là một GN như phần lớn các chu tố).

KHOA NGỮ VĂN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 21 : NGUYẼ) i VHD: TS. * Vị từ đơn trị (“vi từ một diễn tố” hay một “vai”) chi có một diễn tố. Diễn tố ấy hầu như bao giờ cũng làm chủ để. Trong ngữ pháp truyền thống, các vị từ này được gọi là vị từ “bất cập vat” hay “nội động”, và được định nghĩa bằng một đặc trưng hình thức : không có bổ ngữ (hay không có bổ ngữ trực tiếp), ngay cả trong trường hợp hồi chỉ zero (nghĩa là có một vai diễn tố bị tỉnh lược nhưng vẫn có mặt trên bình diện nghĩa).

Trong các vị từ đơn trị, có những vị từ "động” như : đi, chạy, dừng: và những vị từ “tinh” như : đứng, nằm, lớn, nhỏ. Vị từ song trị (“vi từ hai diễn tế” hay vi từ “hai vai") có hai diễn tố, trong đó diễn tế nào cũng có thể làm chủ dé, và déu có thể tỉnh lược (hồi chi zero) nếu ngôn cảnh cho phép. Nếu diễn tố thứ nhất làm để ngữ thì diễn tố thứ hai làm bố ngữ trực tiếp : Me thổi cơm. Nếu diễn tố thứ hai làm chủ dé thì điễn tố thứ nhất (nếu không tỉnh lược) có thể làm tiểu để của một cấu trúc để - thuyết bậc hai : Cơm (thì) mẹ thổi.

Diễn tố thứ nhất thường là DN (+ động vật) (câu “hành động”) hay [+ lực] (câu “sy biến”).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Lớp Vị Từ Có Hai Cách Dùng Nội Động Và Ngoại Động Trong Tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách sử dụng lớp vị từ trong tiếng Việt, phân tích sự khác biệt giữa hai cách dùng nội động và ngoại động. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về ngữ pháp tiếng Việt mà còn mở rộng kiến thức về cách thức diễn đạt ý nghĩa trong ngôn ngữ. Những điểm chính được nêu bật trong tài liệu bao gồm cấu trúc ngữ pháp, ví dụ minh họa và ứng dụng thực tiễn của lớp vị từ trong giao tiếp hàng ngày.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về ngôn ngữ và ngữ pháp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ câu phủ định tiếng nga trong sự đối chiếu với tiếng việt. Tài liệu này sẽ giúp bạn so sánh và đối chiếu giữa tiếng Nga và tiếng Việt, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết về ngôn ngữ học. Mỗi liên kết là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề này và nâng cao kiến thức của mình.