CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1, Vj từ Câu tiếng Việt được cấu tạo bởi hai thành phần nòng cốt : Dé và Thuyết. Ngữ vị từ , thường nằm ở phần Thuyết, là thành phần nòng cốt biểu hiện nội dung của sự thể được thông báo trong câu. Ngữ vị từ là ngữ chính phụ có trung tâm là vị từ. Cấu tạo của ngữ vị từ được sách giáo khoa trình bày thành hai mô hình — một của cụm động từ và một của cụm tính từ.
Ta có mô hình TRUNG TÂM Trong mô hình cấu tạo trên, trung tâm là vị từ, Nếu ngữ vị từ biểu hiện nội dung của sự tình thì vị từ biểu thị cái lõi của sự tình. Vi từ là loại thực từ có thể làm trung tâm một ngữ vi từ. Nguyễn Thị Qui (1995) trong cuốn “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó” đã viết : “Nghĩa của các vị từ có một tác dụng quyết định đối với ngữ pháp của câu”. Tác giả cũng đưa ra dẫn chứng cụ thể: Trong một sự thể như “một cuộc tìm kiếm”, nội KHOA NGỮ VĂN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 15 SVT „NGUY dung của sự thể là hành động “tìm”, hành động này phải có ít nhất hai “nhân vật” tham gia mới thành được : người tìm và người (hay vat) được tìm.
Trong "một cuộc biếu ting”, phải có ít nhất ba tham tố (khái niệm tham tố sẽ được trình bày ở phần sau = mục 1.2 ) : người cho, vật đem cho và người nhận. Trong "một cuộc chạy”, chỉ cẩn có một (hay những) người làm cái việc chạy là được, không cẩn có những tham tố mới thành được cái sự thể gọi là "cuộc chạy”. Nhưng trong một hành động gọi là “đến”, ngoài người đến phải có nơi đến nữa mới hình thành được cái sự thể được gọi là như thế. Như vậy nghĩa của các vị từ thể hiện các sự thể như “tim, cho, chạy, đến” đều qui định cái khung những tham tố có mặt trong sự thể và do đó cũng qui định cấu trúc nghĩa của toàn câu, vốn là mục đích diễn đạt của cú pháp.
Ta có thể kết luận : nghĩa của vị từ qui định cấu trúc ngữ nghĩa — ngữ pháp của toàn câu, 1. Tham tố - diễn tố - chu tố 1.1,Tham tố: Những sự tình được thông báo, các hiển ngôn, hàm ngôn đều phải trực tiếp hay gián tiếp dựa vào câu mà biểu hiện. Mỗi từ ngữ, mỗi thành phần chức năng trong câu đều có vai trò của nó, nhưng có thể nói hạt nhân của câu là cái khung ngữ vị gồm vị từ trung tâm và các tham tố của nó. KHOA NGỮ VAN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 l6 Như vậy, "có thể hiểu tham tố của vị từ là những yếu tố tham gia cùng với vị từ tạo nên ýnghĩa của câu.
Nói một cách trừu tượng hơn, có thể hình dung nội dung (nghĩa biểu hiện) của câu như một "cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn ra trên sân khấu. Cái cảnh ấy có một nội dung nhất định: trên sân khấu thấy hiện ra một quang cảnh nào đấy (một sự tình tĩnh), hay diễn ra một sự việc nào đấy (một sự tình động). Một vị từ có thể có một tham tố hay nhiều tham tố tùy theo nghĩa của vị từ đó. Nghĩa của vị từ qui định khung tham tố của nó, tức là số lượng và tính chất của các tham tố chỉ các vai nghĩa tham gia vào cái sự tình được biểu hiện bằng câu, trong đó có vị ngữ mà nó làm trung tâm.
Ví dụ: Tôi ăn cơm bằng đãa. qd (@) @) Có ba tham tố tham gia cấu thành nên khung ngữ vị từ : |.Trong đó (3) là tham tố không bat buộc. Cdn (1) và (2) là những tham tố bắt buộc Xét ví dụ khác ta sẽ thấy rõ hơn. Nó mua quyển sách _ở nhà sách Nguyễn Văn Cừ.
(1) (2) (3) KHOA NGU VAN, DHSP TP HCM, 1999-2003 17 Tham tố (1)’, (2) là hai tham tố bất buộc. “Mua” là vị từ trung tâm qui định cái khung của ngữ vị từ. Ta thử bỏ đi tham tố (2), câu văn sẽ trở thành: Nó mua ở nhà sách Nguyễn Văn Cừ. Người đọc sẽ không hiểu được nội dung thông báo của câu văn trên là gì.
Nó mua cái gì? Trả lời cho câu này chính là phần trọng tâm, phần thông tin cần thiết mà người đọc cần bieÝ. Nếu đặt câu nói trên vào một ngữ cảnh cụ thể thì lại khác. Chẳng hạn: A~— Nó mua quyển sách đó ở đâu? B~ Nó mua ở nhà sách Nguyễn Văn Cv. Trong ngữ cảnh trên, tham tố "quyển sách” được ẩn đi, nói cách khác đây là cách nói tỉnh lược.
Người đọc vẫn hiểu câu trả lời sẽ là: “Nó mua quyển sách ở nhà sách Nguyễn Văn Cir” Mặt khác nếu ta bỏ đi tham tố (3): “Ở nhà sách Nguyễn Van Cừ” thì người đọc vẫn hiểu nội dung cần thông báo. Như vậy, các tham tố của vị từ gồm hai loại: tham tố bắt buộc và tham tố không bat buộc. Những tham tố bắt buộc phải có để cái sự tình được biểu hiện trong câu có thể được thực hiện : đó là các diễn tố. Ngược lại, có những tham tố có thể không xuất hiện trong ngữ vị từ vì những vai nghĩa mà các tham tố ấy biểu hiện không nhất thiết phải có mặt để cho cái sự tình ấy có thể được thực hiện.
Đó là các chu tố. KHOA NGU VĂN, DHSP TP HCM, 1999-2003 18 : NGUYÊN ' GVHD : TS. BÙI MANH HUNG 1.2 Diễn tố: Diễn tố, như đã nói ở trên, là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung ngữ vị từ như một nhân vật được giả định một cách tất yếu trong nội dung nghĩa của vị từ, mà nếu thiếu đi thì cái sự tinh hữu quan không thể được thực hiện, không còn là nó nữa. Tổng số các dién tố của một vị từ làm thành diễn trị (hay khung diễn tố ) của nó.
Chẳng hạn, trong một sự tình được gọi là "đánh", phải có người đánh và người hoặc vật bị đánh. Trong một sự tình được gọi là “tang”. phải có một người tặng, người được tặng và một cái gì đó đem tặng. Hoặc một cảnh “ngủ”, phải có người (hay vật) rơi vào trang thái “ngủ” ấy.
Những yếu tố cần phải có trong sự tình được gọi là "đánh"”, “tang”, "ngủ `, Diễn tố của một vị từ có thể tường minh hay hàm ẩn là tuỳ thuộc vào ngữ cảnh mà sự tinh được dat vào. Chẳng hạn xét trong một ngữ cảnh sau: _ Me : Con nấu cơm chita? _ Con : Con nấu rồi. Ở đây diễn tố “com” không được nói ra trong câu nhưng đặt trong ngữ cảnh trên người nghe (đọc) vẫn hiểu “con nấu cơm rồi”. Một vị từ có thể có một hay nhiều diễn tố, các diễn tố của vi từ trong một câu dù không được nói hết ra thì người nghe hay người ———.____ Thay fue, Hs w we E ce 8 hy yya = : | oc.
Ễ Sy KHOA NGU VAN, DHSP TP HCM, 1999-2003 19 đọc đều phải hiểu là các diễn tố đó đều có mặt trong sự tình. Ta xét một ví dụ khác: _A: Mày cho nó quyển sách ấy rồi a? _B: Cho rồi. Trong sự tình được gọi là “cho”, phải có một người cho, một người nhận, và một cái gì đó được đem cho. Nhưng ở câu trả lời "cho rồi ”, diễn tố | “người cho”, diễn tố 2 “vật đem cho”, và diễn tố 3 "người nhận” đều không thấy nói đến.
Tuy vị từ được dùng một mình (với từ chỉ thể "rổi"), người nghe vẫn hiểu là có người nào đó mang mét quyển sách nào đó cho một người nào đó. Tác giả của cuốn "Ngữ pháp chức năng tiếng Việt” (quyển | ~ "Câu trong tiếng Việt") đã đưa ra những vi dụ rất cụ thể về các diễn tố tham gia trong các sự tình được diễn đạt bằng những câu cu thể. Trong sự tình được diễn đạt bằng câu : Nam cho em bé cái kẹo, cái khung ngữ vị từ ấy được tác giả phân tích như sau: Diễn tố 1: | Lõi của sự tình: | Diễn tố 2: “Cho” là một vị từ có 3 diễn tố. Có những vị từ có 2 diễn tố: KHOA NGU VĂN, DHSP TP HCM, 1999-2003 20 Lõi của sv tình: Diễn tố 2: đích quá trình Có những vị từ có thể có một diễn tố: trạng thái quá trình Các túc gid của cuốn “DE án chương trình môn tiếng Việt ở trường phổ thông (từ lớp 1 đến lớp 12)” cũng đưa ra vài ví dụ cơ bản về diễn tố của vị từ, trong đó có nêu lên một vài vị từ không có một tham tố bắt buộc, hay nói cách khác là không có diễn tố.
Họ gọi những vị từ này là những vị từ vô trị. ˆ Vị từ vô trị: (“v6 nhân xưng” hay “không vai”) không có tham tố bat buộc nào (không có diễn tố): mua, lạnh, ổn, sớm, muộn trong những câu như: lạnh Hôm qua mưa, Khuya lắm, On quá! Muộn lắm réi! Những câu này không có chủ dé (hôm qua, khuya đều là những khung dé). Chủ để thường là một diễn tố. Khung để bao giờ cũng là những chu tố, ngay cả khi nó là một DN (chứ không phải là một GN như phần lớn các chu tố).
KHOA NGỮ VĂN, ĐHSP TP HCM, 1999-2003 21 : NGUYẼ) i VHD: TS. * Vị từ đơn trị (“vi từ một diễn tố” hay một “vai”) chi có một diễn tố. Diễn tố ấy hầu như bao giờ cũng làm chủ để. Trong ngữ pháp truyền thống, các vị từ này được gọi là vị từ “bất cập vat” hay “nội động”, và được định nghĩa bằng một đặc trưng hình thức : không có bổ ngữ (hay không có bổ ngữ trực tiếp), ngay cả trong trường hợp hồi chỉ zero (nghĩa là có một vai diễn tố bị tỉnh lược nhưng vẫn có mặt trên bình diện nghĩa).
Trong các vị từ đơn trị, có những vị từ "động” như : đi, chạy, dừng: và những vị từ “tinh” như : đứng, nằm, lớn, nhỏ. Vị từ song trị (“vi từ hai diễn tế” hay vi từ “hai vai") có hai diễn tố, trong đó diễn tế nào cũng có thể làm chủ dé, và déu có thể tỉnh lược (hồi chi zero) nếu ngôn cảnh cho phép. Nếu diễn tố thứ nhất làm để ngữ thì diễn tố thứ hai làm bố ngữ trực tiếp : Me thổi cơm. Nếu diễn tố thứ hai làm chủ dé thì điễn tố thứ nhất (nếu không tỉnh lược) có thể làm tiểu để của một cấu trúc để - thuyết bậc hai : Cơm (thì) mẹ thổi.
Diễn tố thứ nhất thường là DN (+ động vật) (câu “hành động”) hay [+ lực] (câu “sy biến”).