MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Nấm là một trong những thành viên của hệ sinh thái rừng, góp phần tạo nên tính đa dạng của hệ sinh thái. Nấm có ở mọi nơi - trong đất, không khí, trong hồ, sông, biển, trên thực vật và động vật, thực phẩm và quần áo, và cả trong cơ thể con ngƣời. Nấm đã và đang có vai trò rất quan trọng trong tự nhiên, trong nghiên cứu khoa học cũng nhƣ trong đời sống thực tiễn của chúng ta, nấm chịu trách nhiệm phá vỡ các chất hữu cơ và giải phóng carbon, oxy, nitơ, phốt pho vào trong đất và bầu khí quyển.
Nấm còn có thể gây ngộ độc, ký sinh trên cơ thể con ngƣời nhƣng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thƣơng và nhiều bệnh hiểm nghèo. Chính vì dựa trên cả hai phƣơng diện khoa học và thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng đƣợc quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau… đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm Việt Nam. Nếu ƣớc tính số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (theo ƣớc tính của Hawksworth, 1991- 2001) thì số loài nấm có thể có trên lãnh thổ lên tới 70.
Điều đó có nghĩa là hiện nay chúng ta mới ghi nhận đƣợc khoảng 1/5 số loài có thể có trên lãnh thổ Việt Nam. Vƣờn quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có hệ sinh thái rừng khá phong phú, đa dạng của miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung. Ở đây, với kiểu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới còn tồn tại khá nhiều loài động, thực vật quý hiếm đặc trƣng cho vùng núi Bắc Bộ, không chỉ có giá trị nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, mà còn có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên (đặc biệt là tài nguyên sinh vật) và Luan van 2 giáo dục bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra, Vƣờn quốc gia Xuân Sơn còn đƣợc coi là “lá phổi xanh”, là điểm du lịch hấp dẫn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ CO2 - chất gây hiệu ứng nhà kính.
Đó là chƣa kể, vai trò phòng hộ đầu nguồn của nó, cũng nhƣ việc cung cấp và bảo vệ nguồn nƣớc, cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Tại Việt Nam, bên cạnh các nghiên cứu về đa dạng động – thực vật đã có lịch sử lâu dài thì các nghiên cứu thành phần nấm mới chỉ ở mức độ nêu lên danh mục một số loài gặp trong tự nhiên. Cho đến nay, chƣa có nghiên cứu nào về sự đa dạng của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn. Chính vì vậy, nhằm xác định thành phần loài, bổ sung cho danh mục khu hệ nấm Việt Nam, đánh giá tính đa dạng sinh học, xác định loài mới, loài đặc hữu của các chi nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae là rất cần thiết, có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn đa dạng sinh vật tại Việt Nam và trên thế giới.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc thành phần loài và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ; - Đề xuất các giải pháp tối ƣu, nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Điều tra, khảo sát, thu mẫu, phân tích thành phần các loài thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Luan van 3 Nội dung 2: Đánh giá độ phong phú của loài nấm lỗ Polyporacea tại VQG Xuân Sơn.
Nội dung 3: Đánh giá sự phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ. Nội dung 4: Vai trò và giá trị sử dụng của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ. Nội dung 5: Đề xuất các giải pháp tối ƣu, nhằm quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn, khu vực tỉnh Phú Thọ. Luan van 4 Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae. Tình hình nghiên cứu họ nấm lỗ Polyporaceae trên thế giới Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều công trình nổi tiếng của nhiều các tác giả. Năm 1821, Fries chia Polyporaceae thành 2 dƣới chi: Daedalea và Polyporus.
Năm 1836, Elias Fries tách chi Trametes từ Daedalea là một chi riêng biệt và đƣợc công nhận Cyclomyces và chi Hexagonia là hợp lệ. Trong 1907-1908, Murill [9] công bố một phân loại họ Polyporaceae của Bắc Mỹ. Trong này, ông đƣợc coi là không ít hơn bảy mƣơi tám chi, đặt dƣới bốn họ Porieae, Polyporaceae, Fomiteae và Daedaleae. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.
Aime mà trong đó Kirk P. - Theo thống kê trên thế giới đã có đến 500.000 tài liệu nói về nấm, trong đó nhiều tài liệu đề cập đến những lĩnh vực thành phần loài, đặc điểm sinh thái, đa dạng sinh học của nấm Lỗ. Theo Mao Xiaolan đã nghiên cứu vào năm 2000 ở Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài. Phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ.
Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau nhƣ Radarivetal đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép đƣợc 242 loài thuộc 11 chi. Luan van 5 Trong rừng mƣa nhiệt đới Brazil (2002), Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau nhƣ trên gỗ, trên cây sống, trên đất. Năm 2013, nhà nấm học cây rừng Nhật Bản Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (Polyporales) ở Thái Lan và một số nƣớc khác nhƣ Côngô, Nam Phi và Đài Loan.
Đăc biệt những năm gần đây các nhà nấm học tập trung viêc phân loại nấm Linh chi ở các nƣớc nhiệt đới. Mabel Gisela Torres- Torres & Laura Guzmán-Dávalos (2013) đã điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố 33 loài mới. Hiện nay ở Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nƣớc khác gần đây rất ƣa chuộng nấm Vân Chi dùng để làm thuốc rất hiệu quả. Nấm này có Tên tiếng Anh là Turkey tails, tiếng Nhật là Kawaratake, tiếng Trung Quốc là Yun Zhi, tên khoa học là Trametes versicolor (Linnaeus :Fries) Pilat.
Trƣớc đây còn có các tên khác nhƣ Coriolus versicolor, Polyporus versicolor. Về hệ thống phân loại nấm này thuộc họ Polyporaceae, bộ Aphyllophorales, lớp Hymenomycetes, ngành Basidiomycota. Tình hình nghiên cứu của họ nấm lỗ Polyporaceae tại Việt Nam - Ở Việt Nam, nghiên cứu về thành phần loài nấm Lớn nói chung, nấm Lỗ nói riệng phải kể đến nhiều công trình của Trịnh Tam Kiệt. Năm 2014 đã công bố 1821 taxa nấm lớn trong " Danh lục nấm lớn ở Việt Nam”.
Trần Văn Mão với đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số nấm phá gỗ ở vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh” đã công bố 239 loài. Năm 2001, Lê Bá Dũng nghiên cứu về thành phần loài của chi Hexagonia Fr. ở vùng Tây Nguyên” gồm 5 loài, trong đó Hexagonia rigida Luan van 6 Berk là loài mới cho khu hệ nấm Việt Nam. Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo nhƣ: Ngô Anh với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm 326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại; Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở Vƣờn quốc gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt (2001) báo cáo “Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam.
Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài thuộc khu hệ nấm Việt Nam đƣợc công bố. Năm 2017, Đoàn Kim Ngân nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của họ nấm lỗ (Polyporaceae) tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, kết quả đạt đƣợc là thu đƣợc tổng cộng có 170 mẫu đƣợc thu thập, định loại đƣợc 18 mẫu thuộc 13 chi của họ nấm Lỗ Polyporaceae; tính toán độ phong phú và tần suất của các chi nấm thuộc họ nấm lỗ Polyporaceae; xây dựng đƣợc lƣợc đồ phân bố của họ nấm lỗ Polyporaceae. Năm 2018, Hoàng Thị Ngọc Ánh nghiên cứu xác định thành phần loài của chi nấm Polyporus, thuộc họ nấm Lỗ (Polyporaceae) tại Vƣờn quốc gia Tam Đảo, kết quả đạt đƣợc là 105 mẫu nấm, trong đó có 27 mẫu nấm thuộc chi Polyporus với 12 loài khác nhau, đã xác định đƣợc tên danh pháp cho 12 loài; tính toán độ phong phú và tần suất của chi nấm Polyporus, đánh giá đƣợc đặc điểm phân bố của chi nấm Polyporus; đƣa ra hiện trạng và phƣơng pháp bảo tồn chi nấm Polyporus. Tổng quan về họ nấm lỗ Polyporaceae 1.
Khái quát chung họ nấm Lỗ (Polyporaceae) Nấm có mặt ở tất cả các môi trƣờng trên trái đất và có ý nghĩa rất quan trong đời sống của con ngƣời. Chúng có vai trò thực tiễn trong nền kinh tế, Luan van 7 khoa học và các chu trình vật chất, năng lƣợng trong thiên nhiên. Cùng với vi khuẩn, nấm là sinh vật phân hủy chính ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (và một số là ở dƣới nƣớc), bởi vậy nên chúng cũng có vai trò quan trọng các chu trình sinh địa hóa. - Phân loại khoa học của họ nấm Polyporaceae: Phân loại khoa học Giới (Kingdom) Nấm (Fungi) Ngành (Phylum) Basidiomycota Lớp (Class) Agaricomycetes Bộ (Order) Polyporales Họ (Family) Polyporaceae Một số đặc điểm sinh học chung để nhận biết về họ nấm Lỗ Polyporaceae: Các phần trên quả thể của họ nấm lỗ rất đa dạng và khác nhau từ mềm đến rất cứng.