Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về loài Rùa sa nhân Cuora mouhotii (Gray, 1862) Trên thế giới, người ta phân loại Rùa theo môi trường sống gồm: rùa cạn, rùa nước ngọt và rùa biển. Hiện nay trên thế giới phát hiện có 7 loài rùa biển, và khoảng 300 loài rùa cạn và rùa nước ngọt. Trong đó có 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt và 5 loài rùa biển.
(Nguồn: Stuart et al, 2001) - Tên Việt Nam: Rùa sa nhân. - Tên khoa học: Cuora mouhotii (Gray,1862). - Tên tiếng anh: Keeled box turtle. - Tên đồng nghĩa: - Họ rùa đầm: Emydidae.
- Bộ rùa: Testudinata. Đặc điểm nhận biết Rùa sa nhân Cuora mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân có một số đặc điểm nhận dạng dễ dàng quan sát như: - Mai của nó dài khoảng 18cm; - Phần lưng có 3 gờ nổi sẵn: Một gờ ở giữa lưng, 2 gờ còn lại chạy từ vảy 1 - 4 trên mai; - Chúng có màu vàng hoặc nâu sáng trên mai, xám, hoặc có những trường hợp màu đen; - Phía sau mai có riềm răng cưa; - Yếm hẹp hơn độ mở của mai; - Đường nối tấm cánh tay xấp xỉ bằng đường nối tấm họng. - Đường nối tấm bụng là dài nhất; - Cơn đực đuôi dài và dầy hơn con cái, đuôi màu nâu sẫm, gốc đuôi có những hạt nhỏ; 4 - Đầu trung bình, có màu nâu vàng; - Mõm ngắn hơn mắt; - Da đầu phân chia thành các tấm lớn; - Chi trước sau có 4 ngón, chi trước có 5 ngón, chân màu nâu đen; - Mắt thường có màu đỏ khi trưởng thành. Rùa sa nhân tại TCC (Nguồn : Chương trình bảo tồn Rùa Châu Á (ATP) Rùa sa nhân Cuora mouhotii (Gray, 1862) còn non dễ bị nhầm với loài rùa đất Spenglơ Geoemyda spengleri (Smith, 1920) non hoặc trưởng thành vì chúng có màu sắc giống nhau, có các gờ trên mai và có các tấm phía cuối mai hình răng cưa.
Tuy nhiên, cả hai loài có thể dễ dàng phân biệt với nhau dựa vào hình dạng của mai: Mai của Rùa sa nhân tròn và gồ cao hơn trong khi rùa đất Spenglơ lại dài và có hình ô van. Đặc điểm phân biệt giữa Rùa sa nhân và Rùa đất Spenglơ Loài Rùa đất Spenglơ Rùa sa nhân Geoemyda Cuora mouhotii (Gray, 1862) Bộ phận spengleri (Smith, 1920) Mai gồ cao hơn, có 3 gờ trên Mai thuôn hơn và cũng có Mai mai, đỉnh mai phẳng ba gờ Đầu lớn hơn loài rùa đất Mắt to, tròn và lồi. Đầu Đầu Spenglơ và mắt màu đỏ khả nhỏ và thon thả Yếm không có tấm bản lề. Đặc điểm nổi bật: Yếm có Yếm Yếm màu đen có các viền tấm bản lề xung quanh màu vàng Mai ngắn, gồ cao hơn và tròn Con non Mai thuôn dài và nhẵn hơn hơn 1.
Đặc điểm sinh học, sinh thái Môi trường sống thích hợp của chúng thường là rừng thường xanh đặc biệt là khu vực núi đá vôi. Chúng thường ẩn nấp, sinh sản trong hang đá, hốc cây khô và dưới những lớp lá cây mục trên đất. Thức ăn trong tự nhiên chủ yếu là các loại cây cỏ, hoa quả rừng rụng hoặc là các loài động vật nhỏ như Ốc sên, Giun đất… Rùa sa nhân đẻ trứng từ tháng 4 - 7 hàng năm, mỗi lứa đẻ từ 2 - 4 trứng, kích thước trứng khoảng 2,5 - 3 cm. Phân bố Rùa sa nhân chủ yếu sinh sống ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Bắc Ấn, Mi - an - ma, Lào và Việt Nam.
Tại Việt Nam, Rùa sa nhân phân bố tại Khu vực miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên từ Khánh Hòa trở ra như Lào Cai (Bảo Hà), Bắc Thái (Thái Nguyên), Vĩnh Phú (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì) Hoà Bình, Hà Bắc, Ninh Bình, Thanh Hoá (Quan Hoá), Nghệ An (Tân Kỳ). Tình trạng Do tình trạng săn bắt, buôn bán trái phép để làm thức ăn, thú cưng,. đã khiến cho số lượng loài Rùa sa nhân ngoài tự nhiên giảm sút nhanh chóng. Hiện loài được Chính phủ Việt Nam bảo vệ và xếp vào nhóm IIB Danh lục các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 về việc “Quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp”.
Tình hình nhân nuôi động vật hoang dã Nhân nuôi động vật hoang dã đang được xem là một trong những hình thức bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm. Nhân nuôi động vật hoang dã bao gồm nhân nuôi bảo tồn và nhân nuôi thương mại, sẽ giúp bảo tồn nguồn gen các loài động vật hoang dã quý hiếm cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm động vật hoang dã trên thị trường, phần nào giảm thiểu nạn săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép ngoài tự nhiên. Hiện nay, nhân nuôi động vật hoang dã đang ngày một phát triển mạnh mẽ nhưng chủ yếu phục vụ vào mục đích thương mại do nhu cầu tiêu thụ và lợi nhuận là rất cao. Tại Việt Nam, các trang trại gây nuôi động vật hoang dã (doanh nghiệp, tập thể, cá nhân) đang phát triển mạnh mẽ với khoảng 4.000 cơ sở đã đăng ký với cơ quan chức năng ở cả 63 tỉnh, thành phố và có khoảng 1 triệu cá thể thuộc 100 loài đang được nuôi, trong đó có các loài như Hươu, Nai, Lợn rừng, Nhím, Trăn, cá Sấu, Khỉ đuôi dài và rắn các loại.
Những người đang hoạt động trong mô hình này cho rằng, gây nuôi động vật hoang dã không chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thực tế trong nước và xuất khẩu mà còn góp phần đảm bảo cho công tác bảo tồn nguồn gen, là công cụ hữu hiệu giúp xóa đói giảm nghèo, đồng thời giảm bớt áp lực săn bắt trong tự nhiên. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng, gây nuôi động vật hoang dã không làm giảm sức ép lên động vật hoang dã trong tự nhiên, mà một số 7 trường hợp động vật bị săn bắt trái phép từ tự nhiên được hợp pháp hóa trong các trang trại gây nuôi - nơi luôn tiềm ẩn nguy cơ vật nuôi sổng chuồng và có thể truyền bệnh cho các cá thể loài trong tự nhiên. Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã đã phối hợp với Cục Kiểm Lâm Việt Nam tiến hành cuộc khảo sát trên 78 trang trại gây nuôi tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, có 22 loài hiện đang được gây nuôi tại các trang trại, trong đó có 12 loài bị đe dọa cấp quốc gia, 6 loài bị đe dọa trên toàn cầu, 4 loài được bảo vệ ở cấp quốc gia và 5 loài có tên trong Phụ lục 1 của Công ước CITES.
Thay vì hoạt động với mục đích bảo tồn, các trang trại gây nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại trên thực tế lại trở thành mối đe dọa đối với các loài động vật hoang dã trong tự nhiên. Qua khảo sát, có tới 42% số trang trại thường xuyên nhập động vật hoang dã từ tự nhiên làm con giống; 50% chủ trang trại thừa nhận con giống ban đầu của họ có nguồn gốc từ tự nhiên, hoặc bao gồm cả nguồn giống từ tự nhiên và từ động vật gây nuôi có sinh sản. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về vấn đề này, nhưng nhìn chung việc gây nuôi động vật hoang dã đã đạt được một số kết quả có ý nghĩa như giúp phát triển kinh tế hộ gia đình ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; có tác dụng tốt trong việc giáo dục môi trường và giải trí; đặc biệt là bảo tồn được nguồn gen. Ví dụ như Hươu sao, Cá sấu Việt Nam gần như đã tuyệt chủng nhưng nhờ gây nuôi sinh sản đã bảo tồn được nguồn gen.
Song bất cập ở chỗ các cơ sở gây nuôi chưa có những đóng góp thực tế vào việc bảo tồn các nguồn gen trong tự nhiên. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý nhà nước cũng chưa chặt chẽ nên vẫn có nhiều quan ngại về tính minh bạch của các trại gây nuôi và hiệu quả của việc giảm áp lực lên tự nhiên. Tình hình nhân nuôi Rùa Rùa là một loài khó để nhân nuôi trong môi trường nuôi nhốt do các yếu tố về môi trường, kỹ năng chăm sóc ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sinh sản, 8 cũng như tỉ lệ trứng nở và con non sống sót sau này. Chính vì lí do đó, rất ít nơi có thể nhân nuôi Rùa thành công.
Hiện nay, tại nước ta mới chỉ ghi nhận Chương trình bảo tồn Rùa Cúc Phương là nơi thực hiện thành công nhất công tác nhân nuôi các loài rùa cạn và rùa nước ngọt với hàng trăm cá thể con non của gần 20 loài đã được ấp nở thành công. Trong đó phải kể tới loài Rùa vô cùng quý hiếm tưởng chừng đã tuyệt chủng ở thế kỷ trước như Rùa Trung bộ. Đây cũng là nơi tập huấn cho nhiều Khu bảo tồn và Vườn quốc gia về kỹ thuật nhân nuôi các loài rùa cạn và rùa nước ngọt vì mục đích bảo tồn, gìn giữ nguồn gen. Các văn bản quy định nhân nuôi động vật hoang dã - Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ vềQuản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, và thực thi công ước về buôn bán các loài động vật, thực vật hoa dã nguy cấp.
- Quyết định số 1176/QĐ-TTg ngày 12/09/2019 về Phê duyệt Chương trình bảo tồn các loài Rùa nguy cấp của Việt Nam đến năm 2025, tâm nhìn đến năm 2030. - Luật chăn nuôi 2020. Hoạt động nhân nuôi Rùa tại Trung tâm bảo tồn Rùa Cúc Phương Trung tâm bảo tồn Rùa (TCC) thuộc VQG Cúc Phương, các Hà Nội 120km về phía Tây Nam, được thành lập bởi Tổ chức Bảo tồn động, thực vật hoang dã quốc tế (FFI) năm 1998. Trung tâm là nơi cứu hộ các loài rùa cạn và rùa nước ngọt bị buôn bán trái phép với quy mô lớn trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX.
Trung tâm đã được xây dựng như một dự án bảo tồn và được chuyển giao cho VQG Cúc Phương vào cuối năm 2001. Hiện tại, TCC là Trung tâm bảo tồn quan trọng trong khu vực, nổi bật với các nỗ lực bảo tồn các loài rùa cạn và rùa nước ngọt cũng như các hoạt động truyền thông nâng cao ý thức cộng đồng về các mối hiểm họa đối với sự tồn tại của loài rùa Việt Nam. Trung tâm có diện tích 7.000 m2 bao gồm các khu chuồng nuôi, bể nước, các 9 khu chuồng nuôi riêng biệt phục vụ công tác nhân nuôi bảo tồn gần 2.000 cá thể rùa thuộc 22 trong tổng số 25 loài rùa bản địa của Việt Nam.