Đặt vấn đề Nguồn dược liệu Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm động vật và thực vật. Trong đó, dược liệu từ cây cỏ đứng vị trí quan trọng về thành phần, chủng loại và giá trị sử dụng. Một số loại dược liệu có giá trị sử dụng lâu đời như Sâm Ngọc Linh, Bình Vôi Tím, cây Bảy lá một hoa, Sâm cau, Lan kim tuyến. Cây Bình Vôi Tím có tên khoa học Stephania rotunada Lour, họ Tiết dê menispermaceae [22].
Bình Vôi Tím có nguồn gốc ở miền đông và nam châu Á cũng như Australasia, là một loại cây thân dây leo, mọc bám vào vách đá, dưới gốc rễ hình thành củ. Vỏ củ màu nâu, dây màu tím phần thịt củ màu đỏ, nhựa dây cũng màu đỏ [30]. Cây Bình Vôi Tím được sử dụng làm thuốc an thần, gây ngủ, chữa nhức đầu, sốt nóng, đau dạ dày, ho nhiều đờm, hen suyễn, khó thở. Ngoài ra hoạt chất L-tetrahydropalmatin và roemerin trong cây Bình Vôi Tím được dùng làm thuốc bổ sức cho người lao lực, chữa đau tim, trị hen suyễn, lỵ amíp, suy nhược và rối loạn tâm thần [10], [31].
Với các ưu thế đó, Bình Vôi Tím đã rất được quan tâm và ưa chuộng. Tuy nhiên nguồn cây Bình Vôi Tím làm dược liệu hiện nay, chủ yếu được khai thác từ tự nhiên. Tốc độ khai thác ngày càng tăng hầu như không có kế hoạch tái sinh, do đó sự phân bố và số lượng cây Bình Vôi Tím trong tự nhiên ngày càng bị thu hẹp và khan hiếm. Mặt khác phương pháp nhân giống truyền thống cho hệ số nhân thấp, dễ bị thoái hóa không cung cấp đủ số lượng lớn cây giống.
Phương pháp nhân giống in vitro trong thời gian ngắn cho số lượng lớn cây giống đảm bảo đồng nhất về mặt di truyền, hình thái và hoàn toàn sạch bệnh. Từ những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu kỹ thuật nhân nhanh nhanh Bình Vôi Tím (Stephania rotunada Lour) bằng phương pháp in vitro”. Mục đích của đề tài Nghiên cứu về quy trình nhân nhanh giống cây Bình Vôi Tím từ đoạn thân non, bánh tẻ bằng phương pháp in vitro. Yêu cầu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng phương pháp khử trùng đến khả năng tạo nguồn vật liệu sạch nấm và vi khuẩn đưa vào nuôi cấy.
- Xác định được ảnh hưởng của hàm lượng khoáng đến khả năng tái sinh chồi cây Bình Vôi Tím (Stephania rotunada Lour). - Xác định được các chất kích thích sinh trưởng và nước dừa tới khả năng nhân nhanh chồi Bình Vôi Tím (Stephania rotunada Lour). - Xác định được ảnh hưởng của hàm lượng IAA đến khả năng ra rễ của chồi cây Bình Vôi Tím (Stephania rotunada Lour). Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra quy trình nhân nhanh giống cây Bình Vôi Tím bằng phương pháp in vitro phục vụ cho việc nhân giống cây dược liệu ở quy mô lớn.
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá lại kiến thức đã học vào nghiên cứu khoa học. - Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân tích số liệu, trình bày một bài báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Đề xuất được quy trình nhân nhanh giống Bình Vôi Tím bằng phương pháp nuôi cấy in vitro, để đảm bảo cung cấp số lượng lớn cây giống có chất lượng cao, đồng đều cho sản xuất. - Nhân nhanh cây giống với số lượng lớn - Bảo tồn được loại dược liệu quý.
n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chi Bình Vôi 2.Phân loại khoa học Bảng 2. Phân loại khoa học Chi Bình Vôi (Stephania spp) Giới (regnum) Plantae Ngành Magloliophyta Phân lớp Magloliosida (Dicotyedones) Bộ (ordo) Ranunculales Họ (familia) Menispermaceae Chi (genus) Stephania Loài (Species) Rotunda Chi Bình Vôi thuộc họ thực vật có hoa. Tên gọi tiếng việt của họ này là họ tiết dê (Menispermaceae).
Chúng ít có ở Việt Nam nhưng có mặt tại khu vực Đông Á (Trung Quốc). Hệ thống APG II năm 2009 cũng công nhận họ này và đặt nó trong bộ Mao lương (Ranunculales), thuộc nhánh hai lá mầm. Đây là một họ trung bình về số lượng loài và chi với khoảng vài chục chi (75- 80) và vài trăm loài (450-520), chủ yếu là các loại dây leo. Phần lớn các chi sinh sống ở khu vực nhiệt đới, chỉ có vài chi sinh sống tại khu vực có khí hậu ôn đới tại miền đông Bắc Mỹ và miền đông Châu Á [18].
Chi Bình Vôi hay chi Thiên kim đằng (Stephania spp) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát (Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê) có nguồn gốc ở miền đông và nam châu Á cũng như Australasia và thường được tìm thấy ở khu vực miền núi của Campuchia [20]. Chi Bình Vôi có khoảng trên 45 loài. Một số loài công bố ở Việt Nam như Stephania glabra (Roxb) Miers, S. Đặc điểm chung chi Bình Vôi 2.
Đặc điểm hình thái Bình Vôi là tên gọi của nhiều loài cây là dây leo, rễ củ thuộc chi Stephania, họ Tiết dê Menispermaceae. Trước đây, tên Bình Vôi chỉ dùng cho một loài là Stephania rotunda Lour, với những tên khác là củ một, củ gà ấp, dây mối chơn, cà tòm, cáy pầm (Tày), co kháy khẩu (Thái), moon – seed (Anh), stéphania (Pháp) [6]. Đặc điểm chung của các loài Bình Vôi như sau: Chúng là các loài cây thân thảo dạng dây leo, thường xanh, gốc hóa gỗ, sống lâu năm, có thể leo cao tới 4m, dưới thân có củ dạng gỗ phình to, trong dân gian gọi là củ. Các lá mọc thành vòng xoắn trên thân cây, hình khiên với cuống lá gắn gần trung tâm của lá.
Hoa nhỏ, khác gốc, màu vàng cam tụ tập thành tán kép. Quả hình cầu dẹt, khi chín màu đỏ, chứa một hạt, hình móng ngựa, có gai [6]. Đặc điểm riêng của một số loại Bình Vôi Stephania pierrei Diels: Ngọn non có nhiều chấm màu tím hồng. Lá có kích thước nhỏ hơn tất cả các loài khác.
Hoa đực không có cánh hoa [24]. Stephania glabra (Roxb.) Miers: Dây leo, dài 2-6m. Rễ phình to thành củ nạc bám vào núi đá, có khi nặng tới 50kg. Da thân củ màu nâu đen, xù xì giống như hòn đá, hình dáng thay đổi tuỳ theo nơi củ phát triển.
Nếu mọc ở đất thì củ nhỏ hơn. Từ thân củ mọc lên những thân màu xanh, nhỏ, mềm. Lá mọc so le, có cuống dài, phiến mỏng hình khiên hoặc tam giác gần tròn, đường kính 8-9cm, với mép thường lượn sóng tai bèo; cuống lá dài 5-8cm. Hoa nhỏ, khác gốc, màu vàng cam tụ tập thành tán kép.
Hoa đơn tính khác gốc. Hoa cái có cuống tán ngắn, còn hoa đực có cuống tán dài. Quả hình cầu dẹt, khi chín màu đỏ, có một hạt hình móng ngựa có gai [6]. Yang: Thân leo dài 2 – 3 m, củ tròn, bề mặt vỏ củ có nhiều nốt sần.
Toàn cây không có lông, lá có cuống, phiến lá dạng tam giác, chóp lá nhọn, gốc lá thay đổi từ từ đến gần bằng, ít n 5 khi hơi lõm, nông và rộng. Gân chính 9 – 10 chiếc, xếp dạng chân vịt, hệ gân phụ dạng mạng rõ [6]. Cambodia Gagnep: Cuống cụm hoa và cuống tán giả dài hơn so với các loài khác [6].Wu: Nửa cuống lá phía đính vào phiến lá và gân lá mặt sau có màu tím hay tím hồng [6].Lo: Cuống lá rất dài, có khi đến 14cm, giá noãn có lỗ lệch một bên [6]. Các hợp chất có trong cây Bình Vôi Trong củ Bình Vôi có chứa nhiều alkaloid, các alkaloid này thuộc nhóm alkaloid dẫn xuất của nhân isoquinolin.
Alkaloid vireakine, stephanine và pseudopalmatine được tìm thấy đầu tiên trong Stephania rotunda cùng năm alkaloid tetrahydropalmatine, xylopinine, roemerine, cepharanthine và palmatine được phân lập và xác định [19]. Theo Bùi Thị Bằng (2006), hàm lượng rotundin đạt tới 3,55% ở loài S.brachyandra Diels (thu ở Hoàng Liên Sơn), 1,31% ở loài S.sinica Diels (thu ở Hà Nam Ninh), 1,30% ở loài S.cambodia Gagnep (thu ở Lâm Đồng), 0,29% ở loài S. Bùi Đình Sang là người phân lập lần đầu tiên các chất từ loài S. củ Bình Vôi mọc ở Việt Nam có các chất tinh bột, đường khử oxy, axít malic, men oxydaza và một alkaloit với tỉ lệ 1,2-1,5% được đặt tên là rotudin, năm 1964 Ngô Văn Thu chiết được roemerin [10].
Theo Phan Thanh Kỳ et al.(1997) khi nghiên cứu rễ củ loài S.brachyandra đã phát hiện các alkaloid: isocorydin, tetrahydropalmatin, dicentrin, sinomenin, corytuberin, sinoacutin, dehydrodicentrin, isoboldin, dihydrosalutaridin và N- metyllaurotetanin [10]. Từ rễ củ loài S.cepharantha đã phân lập được alkaloid chính là cepharanthin và những alkaloid phụ khác: isotetrandin,berbamin, cepharanolin, cycleanin, stephanin, crebanin,o-nornuciferin, stesakin, palmatin, n 6 cepharamin. Trong rễ của loài S.dielsiana có: crebanin, sinoacutin, stephanin, tetrahydropalmatin và dehydrostephanin [3], [10]. Phân bố Chi Bình Vôi có khoảng 45 loài dây leo thường xanh hoặc rụng lá trong đó nhiều loài có rễ phình to thành củ ở Malaysia có 12 hoặc 13 loài, Trung Quốc hơn 10 loài, Ấn Độ có 9 loài, ở Việt Nam có ít nhất 12-13 loài trong đó có 8-9 loài có rễ củ to [20].
Các loại Bình Vôi ở nước ta phân bố rộng trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Thường tập trung ở vùng núi đá vôi như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Vũng Tàu, Bà Rịa và thường được tìm thấy ở trong rừng của Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Đồng Nai [12], [6], [11]. Ngoài ra nó còn có mặt ở Hà Tây, Hà tĩnh cả ở nơi lạnh như Sa Pa, phân bố của mỗi loài rất khác nhau, tùy theo đặc tính sinh học của chúng. Đặc điểm riêng của một số loài [6], [11].
Phương pháp nhân giống Bình Vôi Củ Bình Vôi có thể được nhân giống bằng cả hai phương pháp hữu tính và vô tính [11]. Phương pháp nhân giống hữu tính Trồng Bình Vôi bằng hạt hoặc phần đầu của củ. Thu hái quả chín vào khoảng tháng 8-10, đãi vỏ lấy hạt để gieo trong vườn ươm vào tháng 2-3 năm sau. Bảo quản hạt trong cát ẩm.
Gieo hạt vào mùa xuân (tháng 2-3), tỉ lệ mọc sẽ cao. Hạt để cách năm có tỉ lệ mọc thấp. Hạt được sau 10-15 ngày hạt sẽ nảy mầm. Tỷ lệ nảy mầm thường đạt 60-70% [6].
Do khả năng tái sinh mạnh, có thể sử dụng Bình Vôi nhỏ ngoài tự nhiên hoặc sử dụng khoảng 1/3 đầu trên củ to, bổ thành 3-4 miếng để làm giống [17]. Ngoài ra, có thể nhân giống bằng hom thân. Thu hoạch cây trồng sau 2-3 năm. Tổng quan về cây Bình Vôi Tím 2.