mở đầu cho hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm sau này tại Việt Nam. Những năm 1983- 1984 các thực nghiệm nhân giống bằng hom được tiến hành tại viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, đối tượng nghiên cứu là Mỡ, Lát Hoa, Bạch Đàn. Nội dung nghiên cứu tập trung vào đặc điểm giải phẫu của hom, ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ của môi trường và xử lý hom bằng các chất kích thích. Việc nghiên cứu nhân giống bằng hom thực vật hoang dại hữu ích được thực hiện có hệ thống hơn trong các hệ thống vườn ươm hoàn thiện của ngành lâm nghiệp, hay tự xây dựng theo các mô hình khác nhau.
Kỹ thuật cắt hom, xử lý và duy trì hom cũng được phát triển ở mức cao hơn. Nhiều loài đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom thành công. Mặc dù vậy, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ ở quy mô thí nghiệm hay thử nghiệm trong địa phương hẹp. Nhân giống bằng hom có tiềm năng và tầm quan trọng lớn vì nó góp phần nhân nhanh các vật liệu nhân giống qúy, hiếm nguồn gen của các loài bị khai thác quá mức, các loài không cho hạt.
Do đó, nhân giống bằng hom có ý nghĩa to lớn trong công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật có ích [3]. Theo kết quả nghiên cứu của Dương Mộng Hùng (1992), các hom Phi lao được xử lý IBA ở nồng độ 200 ppm có tỷ lệ ra rễ là 76,6% còn công thức đối chứng chỉ đạt 18,3% [5]. Nhằm mục đích bảo tồn, Tạ Quang Nhiệm và cs, đã thăm dò khả năng nhân giống bằng hom cây Ba gạc bốn lá (Rauvolfia vomitoria) ở Phú Thọ, với các hom dài 40 – 50 cm, vùi xuống đất sâu 20 – 25 cm. Kết quả cho thấy các hom có khả năng ra rễ và nảy chồi nhưng tỷ lệ sống ít (< 10%), các hom ngắn hơn, dài từ 10 – 20 cm không có khả năng ra rễ [12].
Từ những năm 1990 trở lại đây thì Lê Đình Khả cùng Phạm Văn Tuấn và Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành nghiên cứu giâm hom các loại Bạch n 12 Đàn (1990 - 1991), Sở (ở Lạng Sơn năm 1990), Keo Lá Tràm (1995), Bách Xanh (1999), Pơ Mu (1997), Thông Đỏ ( ở Ba Vì 1995). [14] Trung tâm nghiên cứu nhân giống cây rừng viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu đã thực hiện thành công việc sản xuất cây hom Bạch Đàn Trắng và cây Keo Lai theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt trong 3 năm 1996- 1998. Tính đến năm 1997 trung tâm đã sản xuất được 120.000 cây hom và đã có 60 ha rừng trồng từ cây giống bằng hom [21]. Cho đến nay thì phương pháp nhân giống bằng hom đã và đang được sử dụng rộng rãi trong công tác chọn tạo giống cây rừng Phạm Văn Tuấn đã xử lý bằng IBA 1% trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ ra rễ cao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất so với ghép mắt và ghép cành 70 – 77% [27].
Nguyễn Chí Hiểu, Đặng Kim Vui, Đặng Văn Minh (2009). Các công thức thí nghiệm giâm hom cây Bò khai có sử dụng các chất kích thích ra rễ cho kết quả cao hơn so với công thức đối chứng không dung thuốc. Trong đó ABT (aminobenzotriazole) ở nồng độ 50ppm cho tỷ lệ cây hom xuất vườn cao nhất, đạt 78,89%. Tiếp đến là NAA 200ppm đạt tỷ lệ xuất vườn 75,56% và IBA 50ppm đạt 74,44%; Về giá thể: công thức 3 với giá thể là đất tầng B 70% + rơm mục 30% có tỷ lệ cây sống cao nhất 82,22% [28].
Cơ sở khoa học của phương pháp nhân giống bằng hom * Cơ sở khao học của phương pháp giâm hom Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,…. Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng. Bởi chúng có các đặc điểm sau: n 13 - Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác. - Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền, nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
- Cây hom mặc dù không giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu nhưng lại giữ được các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ [13]. Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F1, tránh phân ly ở đời F2 và như vậy chúng có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hom * Các phương pháp nhân giống bằng hom - Các nhân tố nội sinh: Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau (D.matin,1974, Nauda,1977) đều đi đến kết luận là: Các loài khác nhau có đặc điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ, (theo Qujada,1985 và Nauda,1970) để chia ra các loại cây gỗ thành 3 nhóm [14]. + Nhóm dễ ra rễ, bao gồm: Các loại không cần xử lý bằng chất kích thích ra rễ vẫn ra rễ với tỷ lệ cao, nhóm này gồm các loài như: Đa (Ficus hoxb), Sung (F.glonerala) rất dễ ra rễ.
Một số loài khác như Dương (Populus), Liễu (Salix), Lõi thọ thuộc nhóm dễ ra rễ. Một số loại thuộc họ Bambusaccac như tre, vầu, luồng được trồng bằng hom thân không cần xử lý chất kích thích ra rễ. + Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài chỉ cần xử lý bằng chất kích thích ra rễ với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỷ lệ cao. Nhóm này gồm các loài như Bạch đàn (E camaldunensis, E.Teretcomis), Thông (Pinusssco carpa, P.
n 14 + Nhóm khó ra rễ bao gồm: Các loại hầu như không ra rễ hoặc là phải dùng đến hóa chất kích thích ra rễ vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp là các loại thuộc nhóm này gồm SWietenia, Macro phylla, Padoearpus, Rigfrighiosi, các loài thuộc chi Casttanea, fagus, Franxinus, Liriodddendron, Guercus, Tilia, Arucaria ở nước ta loài bách tán cũng thuộc loại rất khó ra rễ. - Nhóm nhân tố môi trường: Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với thời tiết, khí hậu, mùa sinh trưởng của cây, trạng thái sinh lý của cành. Thời vụ giâm hom có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành bại của nhân giống bằng hom. Đối với loài cây rụng lá, gỗ cứng thường lấy cành giâm lúc cây bắt đầu bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, còn với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá thì thời kỳ lấy hom là mùa sinh trưởng.
Với Bạch đàn ở Đông Nam bộ thời kỳ giâm hom thích hợp từ tháng 5 đến tháng 7. Nhìn chung trong điều kiện khí hậu Việt Nam thời kỳ giâm hom thích hợp là các tháng xuân, hè, thu [9]. Những thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thấy rằng: Keo lá tràm và Keo tai tượng 1 năm tuổi giâm trong tháng 7có tỷ lệ ra rễ cao > 90%. - Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ: Kết quả nghiên cứu cho thấy, các loại thuốc kích thích ra rễ khác nhau, có tác dụng khác nhau đến sự ra rễ của hom.
Hom cây Mỡ 1 tuổi xử lý bằng IAA, IBB, NAA nồng độ 50 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ tương ứng là: 74,1%; 93,8%; 53,3%. Hom Bạch đàn trắng (E. Cameldunensis) 4 tháng tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm; 50 ppm; 75 ppm; 100 ppm trong 3 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 64,5%; 71,4%; 77,4% và 45,1%. Như vậy khi nồng độ tăng tỷ lệ ra rễ tăng, nhưng khi nồng độ tăng quá cao (100 ppm) tỷ lệ ra rễ lại giảm xuống.
Hom cây Mỡ 1 năm tuổi xử lý bằng IAA nồng độ 25 ppm tỷ lệ ra rễ giảm xuống còn 50%. n 15 Hom bạch đàn trắng xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm trong thời gian 1; 3; 5; 8 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là 83,6%; 93,7%; 62,5%; 53,1%. Với hom Mỡ xử lý bằng IAA nồng độ 100 ppm với thời gian 3; 5; 8; 16 giờ có tỷ lệ ra rễ tương ứng là: 74%; 81,3%; 73% và 55,7% [14]. Nghiên cứu nhân giống cây Dầu rái bằng hom, tác giả đã sử dụng thuốc bột và thuốc nước cho của cùng một loại, cho kết quả là tỷ lệ ra rễ đối với thuốc bột là 80%, thuốc nước là 78,3% [11].
Khi xử lý hom bằng thuốc kích thích ra rễ cần biết rằng nồng độ và nhiệt độ không khí có mối quan hệ qua lại với nhau. Nếu nhiệt độ không khí cao cần sử dụng nồng độ thấp và thời gian ngắn; còn nhiệt độ không khí thấp xử lý với nồng độ cao và thời gian dài [24]. Trong quá trình thực hiện giâm hom thì cần phải thực hiện đầy đủ và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ chăm sóc cây mẹ đến lấy hom giâm, chọn giá thể, thao tác kỹ thuật khi giâm hom, chăm sóc hom giâm thích hợp cho mỗi vùng (điều kiện ngoại cảnh) thì mới đạt được tỷ lệ ra rễ như mong muốn. Tổng quan về cây bảy lá một hoa Tên : cây Bảy lá một hoa.
Tên khác : Thất Diệp nhất chi hoa. Tên khoa học : Paris poluphylla. Thuộc họ: Hành tỏi (Liliaceae). Phân bố tự nhiên và khả năng gây trồng: Bảy lá một hoa có khu phân bố tương đối hẹp, nên đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.
Cây mọc hoang ở những vực khe ẩm tối, gần suối ở độ cao trên 600m. Gặp nhiều ở Lào Cai (Sapa), Ninh Bình (Cúc Phương), Thái Nguyên (Ðại Từ), Lạng Sơn, Hoà Bình, Bắc Giang, Hà Giang. Tại Vườn quốc gia Tam Đảo, các nhà nghiên cứu đã thấy loài này ở độ cao trên 400m. Hiện nay, tại một số hộ gia đình vùng n 16 đệm của Vườn quốc gia đã có trồng cây Bảy lá một hoa.
Thu hái rễ quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu đông, rửa sạch phơi khô. Trong thành phần hoá học của cây có diosgenin, pennogenin. Cây có vị đắng, tính lạnh; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng viêm. Bảy lá một hoa có 4 chi, 50 loài, phân bố ở bắc ôn đới.
Ở Việt Nam có 1 chi, 5 loài, phổ biến là Bảy lá một hoa (Paris polyphylla ), Cây thân thảo nhỏ, sống lâu năm, thân rễ ngắn chia nhiều đốt.