phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Trình bày đƣợc các cơ sở lý thuyết sau: + Tổng quan các hệ thống thông minh. + Trí tuệ nhân tạo và ứng dụng: các khái niệm về học máy, các phƣơng pháp học máy, mạng neuron nhân tạo. + Lý thuyết về xử lý ảnh: tìm hiểu các phƣơng pháp trích chọn và biểu diễn đặc trƣng ảnh. + Kỹ thuật học sâu (Deep Learning): khái niệm, mạng neuron học sâu, mạng neuron tích chập.
Chƣơng 2: Một số kỹ thuật nhận dạng hành động + Một số kỹ thuật nhận dạng hành động + Bài toán phát hiện hành động có thể gây nguy hiểm cho học sinh + Thiết kế mô hình nhận dạng hành động + Phân tích các thành phần hệ thống Chƣơng 3: Thực nghiệm và đánh giá. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Trí tuệ nhân tạo 1. Một số khái niệm chung Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo (Artificial intelligence – viết tắt là AI) là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer science).
Là trí tuệ do con ngƣời lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh nhƣ con ngƣời. Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logic trong các ngôn ngữ lập trình là ở việc ứng dụng các hệ thống học máy (machine learning) để mô phỏng trí tuệ của con ngƣời trong các xử lý mà con ngƣời làm tốt hơn máy tính. Cụ thể, trí tuệ nhân tạo giúp máy tính có đƣợc những trí tuệ của con ngƣời nhƣ: biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi,… Tuy rằng trí thông minh nhân tạo có nghĩa rộng nhƣ là trí thông minh trong các tác phẩm khoa học viễn tƣởng, nó là một trong những ngành trọng yếu của tin học. Trí thông minh nhân tạo liên quan đến cách cƣ xử, sự học hỏi và khả năng thích ứng thông minh của máy móc.
Một số ứng dụng của trí tuệ nhân tạo Trong giáo dục Sự ra đời của trí tuệ nhân tạo giúp tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực giáo dục. Các hoạt động giáo dục nhƣ chấm điểm hay dạy kèm học sinh có thể đƣợc tự động hóa nhờ công nghệ AI. Nhiều trò chơi, phần mềm giáo dục ra đời đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng học sinh, giúp học sinh cải thiện tình hình học tập theo tốc độ riêng của mình. Trí tuệ nhân tạo còn có thể chỉ ra những vấn đề mà các khóa học cần phải cải thiện.
Chẳng hạn nhƣ khi nhiều học sinh đƣợc phát hiện là gửi đáp án sai cho bài tập, hệ thống sẽ thông báo cho giáo viên đồng thời gửi thông điệp 5 đến học sinh để chỉnh sửa đáp án phù hợp. Công nghệ AI còn có khả năng theo dõi sự tiến bộ của học sinh và thông báo đến giáo viên khi phát hiện ra vấn đề đối với kết quả học tập của học sinh. Hơn nữa, sinh viên còn có thể học hỏi từ bất cứ nơi nào trên thế giới thông qua việc sử dụng những phần mềm có hỗ trợ AI. Công nghệ AI cũng cung cấp dữ liệu nhằm giúp sinh viên lựa chọn đƣợc những khóa học online tốt nhất cho mình.
Trong truyền thông Đối với lĩnh vực truyền thông, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo góp phần làm thay đổi cách thức tiếp cận đối với khách hàng mục tiêu. Nhờ những ƣu điểm của công nghệ AI, các công ty có thể cung cấp quảng cáo vào đúng thời điểm, đúng khách hàng tiềm năng, dựa trên việc phân tích các đặc điểm về nhân khẩu học, thói quen hoạt động trực tuyến và những nội dung mà khách hàng thƣờng xem trên quảng cáo. Nhớ AI mà các công ty nắm đƣợc thông tin cũng nhƣ nhu cầu khách hàng từ đó đƣa ra những giải pháp và chiến lƣợc mới trong kinh doanh. Trong ngành dịch vụ Công nghệ AI giúp ngành dịch vụ hoạt động tối ƣu hơn và góp phần mang đến những trải nghiệm mới mẻ hơn và tốt hơn cho khách hàng.
AI có thể thu thập, phân tích dữ liệu để đƣa ra kết quả về khách hàng, những thực hiện và chiến lƣợc cho doanh nghiệp. Ƣu điểm chính của AI là sắp xếp đƣợc lƣợng dữ liệu khổng lồ nhanh chóng, chính xác. AI có thể thực hiện đƣợc nhiều nhiệm vụ phức tạp mà cần ít hoặc không cần hỗ trợ từ con ngƣời. Ví dụ, ngày nay trong các ngành khách sạn, du lịch, ngân hàng, buôn bán,…hầu hết đều tiếp cận và đƣa các ứng dụng AI vào phục vụ cho công việc của mình.
Một số phƣơng pháp học máy 1. Khái niệm chung Học máy (machine learning) là một lĩnh vực của trí tuệ nhân tạo liên quan đến việc nghiên cứu và xây dựng các kĩ thuật cho phép các hệ thống 6 "học" tự động từ dữ liệu để giải quyết những vấn đề cụ thể. Ví dụ nhƣ các máy có thể "học" cách phân loại thƣ điện tử xem có phải thƣ rác (spam) hay không và tự động xếp thƣ vào thƣ mục tƣơng ứng. Học máy rất gần với suy diễn thống kê (statistical inference) tuy có khác nhau về thuật ngữ.
Học máy có liên quan lớn đến thống kê, vì cả hai lĩnh vực đều nghiên cứu việc phân tích dữ liệu, nhƣng khác với thống kê, học máy tập trung vào sự phức tạp của các giải thuật trong việc thực thi tính toán. Nhiều bài toán suy luận đƣợc xếp vào loại bài toán NP-khó, vì thế một phần của học máy là nghiên cứu sự phát triển các giải thuật suy luận xấp xỉ mà có thể xử lý đƣợc. Học máy có hiện nay đƣợc áp dụng rộng rãi bao gồm máy truy tìm dữ liệu, chẩn đoán y khoa, phát hiện thẻ tín dụng giả, phân tích thị trƣờng chứng khoán, phân loại các chuỗi DNA, nhận dạng tiếng nói và chữ viết, dịch tự động, chơi trò chơi và cử động rô-bốt (robot locomotion). Dƣới góc nhìn của trí tuệ nhân tạo, động lực chính học máy bởi là nhu cầu thu nhận tri thức (knowledge acquisition).
Thật vậy, trong nhiều trƣờng hợp ta cần kiến thức chuyên gia là khan hiếm (không đủ chuyên gia ngồi phân loại lừa đảo thẻ tín dụng của tất cả giao dịch hàng ngày) hoặc chậm vì một số nhiệm vụ cần đƣa ra quyết định nhanh chóng dựa trên xử lý dữ liệu khổng lồ (trong mua bán chứng khoán phải quyết định trong vài khoảng khắc của giây chẳng hạn) và thiếu ổn định thì buộc phải cần đến máy tính. Ngoài ra, đại đa số dữ liệu sinh ra ngày nay chỉ phù hợp cho máy đọc (computer readable) tiềm tàng ngƣồn kiến thức quan trọng. Máy học nghiên cứu cách thức để mô hình hóa bài toán cho phép máy tính tự động hiểu, xử lý và học từ dữ liệu để thực thi nhiệm vụ đƣợc giao cũng nhƣ cách đánh giá giúp tăng tính hiệu quả. Phân loại phương pháp học máy Theo phân nhóm dựa trên phƣơng thức học thì học máy có 4 nhóm sau: Học có giám sát Học có giám sát là một hƣớng tiếp cận của Máy học để làm cho máy tính có khả năng "học".
Trong hƣớng tiếp cận này, ngƣời ta "huấn luyện" máy 7 tính dựa trên những quan sát có dán nhãn. Ta có thể hình dung những quan sát này nhƣ là những câu hỏi, và nhãn của chúng là những câu trả lời. Ý tƣởng của học có giám sát là: bằng việc ghi nhớ và tổng quát hóa một số quy tắc từ một tập câu hỏi có đáp án trƣớc, máy tính sẽ có thể trả lời đƣợc những câu hỏi dù chƣa từng gặp phải, nhƣng có mối liên quan. Ví dụ ta dạy máy tính "1 + 1 = 2" và hy vọng nó sẽ học đƣợc phép tính cộng x + 1 và trả lời đƣợc là "2 + 1 = 3".
Học có giám sát mô phỏng việc con ngƣời học bằng cách đƣa ra dự đoán của mình cho một câu hỏi, sau đó đối chiếu với đáp án. Sau đó con ngƣời rút ra phƣơng pháp để trả lời đúng không chỉ câu hỏi đó, mà cho những câu hỏi có dạng tƣơng tự. Trong học có giám sát, các quan sát bắt buộc phải đƣợc dán nhãn trƣớc. Đây chính là một trong những nhƣợc điểm của phƣơng pháp này, bởi vì không phải lúc nào việc dán nhãn chính xác cho quan sát cũng dễ dàng.
Ví dụ nhƣ trong dịch thuật, từ một câu của ngôn ngữ gốc có thể dịch thành rất nhiều phiên bản khác nhau trong ngôn ngữ cần dịch sang. Tuy nhiên, việc quan sát đƣợc dán nhãn cũng lại chính là ƣu điểm của học có giám sát bởi vì một khi đã thu thập đƣợc một bộ dữ liệu lớn đƣợc dán nhãn chuẩn xác, thì việc huấn luyện trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với khi dữ liệu không đƣợc dán nhãn. Học không giám sát Trong thuật toán này, chúng ta không biết đƣợc dữ liệu đầu ra hay nhãn mà chỉ có dữ liệu đầu vào. Thuật toán Học không giám sát dựa vào cấu trúc của dữ liệu để thực hiện một công việc nào đó, ví dụ nhƣ phân nhóm hoặc giảm số chiều của dữ liệu để thuận tiện trong việc lƣu trữ và tính toán.
Một cách toán học, Học không giám sát là khi chúng ta chỉ có dữ liệu vào X mà không biết nhãn Y tƣơng ứng. Những thuật toán loại này đƣợc gọi là Học không giám sát vì không giống nhƣ Học có giám sát, chúng ta không biết câu trả lời chính xác cho mỗi 8 dữ liệu đầu vào. Giống nhƣ khi ta học, không có thầy cô giáo nào chỉ cho ta biết đó là chữ A hay chữ B. Cụm không giám sát đƣợc đặt tên theo nghĩa này.
Ứng dụng phổ biến nhất của Học không giám sát là bài toán về phân cụm 1 Học bán giám sát Nằm ở đâu đó giữa học tập đƣợc giám sát và không giám sát, vì chúng sử dụng cả dữ liệu đƣợc gắn nhãn và không dán nhãn để đào tạo - thƣờng là một lƣợng nhỏ dữ liệu có nhãn và một lƣợng lớn dữ liệu không đƣợc dán nhãn. Các hệ thống sử dụng phƣơng pháp này có thể cải thiện đáng kể độ chính xác của việc học. Thông thƣờng, việc học bán giám sát đƣợc chọn khi dữ liệu đƣợc dán nhãn đƣợc yêu cầu đòi hỏi tài nguyên có kỹ năng và có liên quan để đào tạo/học hỏi từ nó. Nếu không, dữ liệu đƣợc gắn nhãn thƣờng không yêu cầu tài nguyên bổ sung.
1 Nguồn Internet 9 H nh 1. Mô hình học bán giám sát2 + Học tăng cƣờng/ củng cố (reinforcement learning) là tổ hợp của cả hai mô hình (học có giám sát và không giám sát).