ĐẶT VẤN ĐỀ Theo báo cáo của chương trình phòng, chống AIDS Liên Hiệp Quốc (UNAIDS) năm 2020 có 37,7 triệu người nhiễm HIV. Trong đó 36,0 triệu là người lớn và 1,7 triệu là trẻ em (0 - 14 tuổi), khoảng 53% tổng số người nhiễm HIV là phụ nữ và trẻ em (1). Tại Việt Nam, tính đến năm 2020, cả nước có 215.220 người nhiễm hiện đang sống chung với HIV và 108.719 người đã tử vong do mắc bệnh, 60% số ca nhiễm HIV/AIDS nằm trong độ tuổi từ 14-29 tuổi (2). Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, tỷ lệ HIV ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở nhóm người trẻ tuổi.
Theo thống kê nhiễm mới năm 2020, số người mới phát hiện nhiễm HIV tập trung chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (45%) và độ tuổi 30-39 (31%) (2). Vị thành niên, thanh niên là nhóm đối tượng dễ mắc HIV/AIDS do tỷ lệ quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn có xu hướng tăng. Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam năm 2019 của UNFPA cho thấy ngày càng có nhiều thanh niên Việt Nam quan hệ tình dục ở độ tuổi chưa thành niên: có 7,8% thanh niên ở độ tuổi 15 - 18 đã quan hệ tình dục lần đầu trước 15 tuổi, tỷ lệ này ở nhóm 19 - 24 tuổi là 1,3% (3). Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của vị thành niên là rất quan trọng.
Chính vì vậy mà trong luật Phòng chống HIV/AIDS được Quốc hội thông năm 2006 đã qui định rõ tại điều 12 và điều 15 chương II về trách nhiệm của ngành giáo dục trong việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng chống HIV/AIDS trong trường học (4). Nhiều người trẻ tuổi thiếu thông tin chính xác, đầy đủ để phòng tránh phơi nhiễm HIV. Nghiên cứu trên sinh viên tại Việt Nam cho thấ y kiến thức và thực hành của sinh viên về phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế. Nghiên cứu đánh giá KAP của 400 sinh viên về HIV/AIDS ở Ý năm 2020 cho thấy hầu hết các sinh viên đều biết rằng HIV lây truyền qua đường tình dục và qua đường máu, nhưng chỉ 34% biết về đường lây truyền qua sữa mẹ (5).
Tương tự, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiến thức và thực hành phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Nghiên cứu năm 2016 tại Cameroon chỉ ra 23,3% học sinh trường trung học phổ thông không biết chính xác đường lây truyền và 40% học sinh có 2 quan hệ tình dục không an toàn trong số những học sinh đã từng quan hệ (6). Tương tự, nghiên cứu năm 2020 tại Nigeria trên đối tượng 10-14 tuổi chỉ ra 9,4% đối tượng có kiến thức đúng và 81,5% vẫn giữ thái độ kỳ thị với người có HIV (7). Tương tự, vị thành niên và thanh niên cũng như đối tượng sinh viên tại Việt Nam cũng có kiến thức và thực hành về phòng chống HIV/AIDS còn hạn chế qua các nghiên cứu.
Nghiên cứu năm 2017 tại sinh viên đại học Thành Tây chỉ ra chỉ 41,2% sinh viên có kiến thức đạt (8). Về yếu tố liên quan, các nghiên cứu chỉ ra 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng tới thực hành phòng chống HIV/AIDS là đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên, kiến thức sinh viên và nguồn thông tin (9-11). Trong đó, yếu tố cá nhân như một yếu tố tiền đề, ảnh hưởng đến niềm tin, thái độ từ đó quyết định cách ứng xử, cho chúng ta những suy nghĩ, cảm xúc với thế giới xung quanh. Về kiến thức, kết quả các nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc thiếu kiến thức về HIV/AIDS là nguyên nhân chính dẫn đến thực hành chưa đúng.
Cuối cùng, tỷ lệ tiếp cận với các nguồn thông tin ở mức thấp, đặc biệt là nguồn thông tin qua kênh chính thống như truyền thông đại chúng và từ các kênh người thân như bố mẹ và giáo viên đều hạn chế. Quảng Bình là tỉnh thuộc duyên hải miền Trung với dân số 896.601 người tính đến năm 2020. Trường Đại học Quảng Bình là trường Đại học duy nhất của tỉnh. Năm học 2020 - 2021, trường Đại học Quảng Bình có hơn 8.000 sinh viên các hệ từ Cao đẳng, Đại học và Sau đại học với nhiều khối ngành.
Báo cáo qua hoạt động tập huấn cho sinh viên của nhà trường do Trung tâm phòng chống HIV/AIDS vào năm 2019 cho thấy chỉ có gần 30% sinh viên hiểu đúng, đủ về đường lây và đường không lây nhiễm HIV. Nhà trường đã định hướng cần tích cực truyền thông, tuyên truyền và tổ chức các hoạt động về phòng HIV/AIDS. Tuy nhiên, công tác tổ chức để hiệu quả cần được thực hiện dựa trên các bằng chứng về thực trạng kiến thức của sinh viên nhà trường về phòng HIV/AIDS. Vì thế, để có thể nắm được kiến thức trong phòng HIV/AIDS ở các sinh viên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kiến thức và thực hành về phòng chống HIV/AIDS và một số yếu tố liên quan của sinh viên trường Đại học Quảng Bình năm 2022”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức và thực hành về phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Quảng Bình năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống HIV/AIDS của sinh viên trường Đại học Quảng Bình năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Đặc điểm sinh bệnh học của HIV/AIDS HIV là viết tắt của cụm từ tiếng Anh: “Human Immunodeficiency Virus”, có nghĩa là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh (12). AIDS là viết tắt của cụm từ tiếng Anh: “Acquired Immune Deficiency Syndrome”, có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra (12). Vi rút HIV thuộc nhóm vi rút Retroviridae có khả năng làm suy giảm hệ thống miễn dịch thông qua việc tấn công tế bào đích TCD4, đây là tế bào đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch, có thể xem là người chỉ huy điều hòa hệ thống miễn dịch của cơ thể.
Khi số lượng tế bào TCD4 dưới ngưỡng 200 tế bào trong một microlit máu sẽ dẫn đến khả năng miễn dịch của cơ thể bị mất, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng cơ hội hay các ung bướu xuất hiện (12). Người nhiễm HIV (NNH) sẽ trải qua lần lượt các giai đoạn từ nhiễm trùng không triệu chứng đến nhiễm trùng có triệu chứng và sau đó chuyển sang giai đoạn AIDS. Trung bình mất khoảng khoảng 9 đến 10 năm để một người bắt đầu nhiễm HIV chuyển sang AIDS; sau khi tiến triển thành giai đoạn AIDS thì thời gian sống chỉ khoảng 9 tháng. Tuy nhiên thời gian diễn tiến của bệnh còn tùy thuộc vào chức năng miễn dịch của người bệnh và không giống nhau ở mỗi người.
Hiện nay chưa có vắc xin phòng ngừa HIV cũng như thuốc điều trị đặc hiệu. Điều trị HIV chỉ làm chậm sự sinh sôi của vi rút (12). Đường lây truyền HIV và biện pháp phòng Sự lây nhiễm vi rút HIV phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: số lượng vi rút có trong máu hay dịch thể của người nhiễm, tình trạng tiếp xúc với máu hay dịch thể, thời gian tiếp xúc máu hay dịch thể, diện tiếp xúc…, sức đề kháng của cơ thể, độc 5 tính hay tính gây nhiễm của vi rút HIV. Trong cơ thể thì máu, tinh dịch và dịch tiết của âm đạo có vai trò quan trọng trong việc lây truyền vi rút HIV.
Do đó có 3 phương thức lây truyền HIV chủ yếu là thông qua đường máu, đường tình dục và lây truyền từ mẹ sang con (12). Phương thức lây truyền quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới là lây truyền qua đường tình dục. Mức nguy cơ lây nhiễm được xếp từ cao xuống thấp theo thứ tự là quan hệ tình dục xâm nhập qua đường hậu môn, qua đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng. Một số cách để phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục như là: không quan hệ tình dục, không sinh hoạt tình dục bừa bãi, chung thủy với một bạn tình duy nhất, khám và điều trị dứt điểm các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Trên thực tế, biện pháp tốt nhất để phòng tránh lây truyền qua đường tình dục là luôn dùng đúng cách bao cao su khi quan hệ tình dục (12). Lây truyền qua đường máu là nguy cơ lây truyền có hiệu lực rất cao (trên 90%). Vi rút HIV có thể truyền thông qua việc sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) bị nhiễm HIV không được tiệt trùng cẩn thận, đặc biệt là ở những người tiêm chích ma tuý (TCMT). Việc sử dụng các dụng cụ để tiêm chích, chữa răng, phẫu thuật… trong các cơ sở y tế mà không tiệt trùng cẩn thận đều có khả năng làm lây nhiễm HIV.
Do đó, không tiêm chích ma túy, không dùng chung bơm kim tiêm, thực hiện tốt công tác tiệt trùng trong y tế và an toàn trong tiêm chủng là những biện pháp phòng chống lây truyền qua đường máu hiệu quả nhất (12). Lây truyền vi rút HIV từ mẹ sang con có thể xảy ra trong khi mang thai, trước khi sinh và một thời gian ngắn sau sinh, ngoài ra vẫn có một số lượng nhỏ lây qua đường bú sữa mẹ. Do đó để phòng lây truyền từ mẹ sang con cần thực hiện các biện pháp như: truyền thông giáo dục sức khoẻ và tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ về nguy cơ bị lây nhiễm HIV và hậu quả có thể lây nhiễm HIV cho con, cần khuyến khích các cặp vợ chồng xét nghiệm sàng lọc trước khi kết hôn, cũng như khi quyết định có thai và khi có thai (12),(13). Thực trạng nhiễm HIV/AIDS hiện nay 1.
Nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Mặc dù thế giới đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong việc ngăn cản sự lây nhiễm của vi rút HIV và giảm dần số lượng bệnh nhân tử vong liên quan đến AIDS nhưng cho đến nay HIV/AIDS vẫn còn là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm trên toàn cầu. Tính đến cuối năm 2020, ước tính trên toàn thế giới có 37,7 triệu người đang sống chung với HIV (14), trong đó có 28,2 triệu người được tiếp cận với thuốc kháng HIV (ART). Chỉ tính riêng năm 2020, có 1,5 triệu ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu và 680.000 người tử vong do bệnh AIDS (14). Nếu tính từ khi đại dịch HIV/AIDS xuất hiện, ước tính có tới 36,3 triệu người tử vong do bệnh AIDS.
Tại một số quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của HIV/AIDS, vấn đề sức khỏe này không chỉ làm mất đi thành quả phát triển của hàng thập kỷ mà còn tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế và ổn định của xã hội.