Đặt Vấn đề. CHƯƠNG TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU. Kiến thức bản địa ( KTBĐ). KTBĐ trong bảo vệ, phát triển và sử dụng 1.
Tình hình nghiên cứu KTBĐ ở Việt Nam. CHƯƠNG 2; MỤC TIÊU, NỘI DƯNG VÀ PHƯƠNG nh IGHIEN CUU. Mục tiêu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu.
Địa điểm, đối tượng nị 2. Mô tả địa điểm 2. Các tiêu chí lựa chọi 2. Phương pháp nại 2.
tích số liệu. CHƯƠNG 3: ĐIÊU ] LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LƯU GIỮ VÀ SỬDỰNG KTBĐ. Đặc iên Vườn Quốc gia Cát Tiên.11 ện tự nhiên. Hiện trạng sử đụng đất và tài nguyên rừng hung về điều kiện tự nhiên tế, xã hội.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.1 Không gian sinh sống và sinh kế của người Mạ và người 4.2 Trí thức về rừng.1 Sự phân biệt các loại rừng 4.2 Tri thức vẻ lâm sản ngoài gỗ( 4. Trí thức về đất và quản lý đất. Tri thức về canh tác rã) 4. Chọn rẫy và quản lý độ phì của đất 4.
Các giai đoạn trong canh tác rẫy. Thời vụ canh tác rẫy của cộng đồng. Năng suất và sản phẩm của canh tác rẫy 4. Tính chất đa canh của hệ thống canh tác rẫy.
Sự thích ứng và thay đổi của canh tác 4. Tập quán canh tác lúa nước. Trí thức vẻ kỹ thuật và công cụ 4. Tiềm năng phát triểncác ngành nghề nôi CHƯƠNG 5: ĐỊNH HƯỚNG CÁC GIẢI PHÁP.
Các chương trình phát trị 5. Mục tiêu và cách tỉ 5. Phân tich SWOT. Các nhóm giải pháp.
Tăng cường khai, giám sát và 5. Thúc đẩy sự hì hắt triển quản lý rừng dựa vào cộng déng 105 nông khuyến l: 11 DAT VAN DE > (1) Giới thiệu chưng ` , Viet Nam có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 33 triệu ha và dân số 80 triệu người. 87% dân số là người Kinh và phân còn lại thuộc hơn'53 nÄóm dân tộc thiểu số khác nhau. Khoảng hai phân ba tổng diện tích cả mướê là vùng đổi núi và cao nguyên, là nơi tập trung của những khu rừng còn sót lại.
Ngoài ra, ước tính có khoảng 24 triệu người sống trong hay gần rừng và có euộc sống phụ Thuộc nhiều hay ít vào rừng và đất rừng. Tuy nằm trong các vùng được đánh giá là giàu tài nguyên và tiểm năng đa dạng sinh học, đói nghèo và suy (hoái tài nguyên mỗi trường là hai vấn để cùng tồn tại và nan giải nhất trong công cuộc phát triển bẻn vững nông thôn. Các cộng đồng người Mạ và S'Tiêng ở các tỉnh Lâm Đồng, Đông Nai và Bình Phước là những trường hợp cụ thể. (2) Nghèo đói và suy thoái tài nguyên Tinh trạng nghèo nàn của các cộng đồng sinh Sốn§ trong những vùng có rừng là vấn đề đang được sự quan tâm rộng vãi của toàa xã hội.
Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002 của Tỏag cục thống kê €ho thấy tỷ lệ nghèo trong vùng nông thôn và nhất là trong nhóm thuộc dần tộc thiểu số còn rất cao. Mặc dù ở nhóm sau, tỷ lệ này đã giảm từ 86,4'% năm 1993 xuống còn xấp xỉ 70% năm 2002, nhưng tỷ lệ này vẫn ở mức gân gấp đôi §o với mức trung bình của vùng nông thôn (là 35,6%) (Tổng cục Thống kê; 2005). Nhiều dự án nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo được thực hiện trong những vùng này mà gần đây nhất là dự án 135 nhắm đến các xã khó khăn. Các dự ám này thường bãö gồm một bộ phận rất quan trọng, đó là xác định quyền sử dụng tài nguyên và phát huy năng lực quản lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng.
Đây lầ những mới mẻ, vì trong suốt thời gian dài, trước. khi có chính sách giao dất; việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, và đặc biệt là tài nguyên rừng †leo một phương thức tập trung đã dẫn đến sự tách rời các cộng đồng VỚI CƠ. sờ TấT “gu yên ‘ma họ đang phụ thuộc. Với những sự hỗ trợ rất to lớn của các 0 kỷ qua Việt Nam đã có những tiến bộ đáng chú ý trong việc phát mức tăng trưởng hàng năm về GDP trung bình cao hơn 7%.
“tong cùng thồï kỳ; tý lệ biết chữ tăng lên và tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh giảm đi. Việt Nam trong thập niên 1990 được xếp vào số các quốc gia có những thành quả phát triển con người tốt nhất trong số các nước đang phát triển trếii thế giới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng này cũng đã bộc lộ:những nhược điểm của nó. Rừng, thủy sản, đất đai và tài nguyên nước của quốc giá đôi khi đã được sử dụng một cách không bẻn vững, và ở vài nơi, chất lượng môi trường đã bị sụt giảm, đem lại những hệ quả nghiêm trọng.
Di sản thiên nhiên đặc thà, của Việt Nam dang phải đối diện với những thử thách của sự xuống cấp. Chương trình Xem xét Các khu bảo tồn và Phát triển (PAD, 2003) ở cáe nước Hạ Lưu Sông Mê Công nhận định rằng: “Phát triển và bảo tồn các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam là hai mặt của một đồng tiền. Không có bảo tồn và bảo vệ, phát triển ˆ khong thể bên vững.” Tuy nhiên, lợi ích xã hội - kinh tế từ việc bảo tồn thường bị bỏ qua và đầu tư cần thiết cho việc duy trì các địch vụ và sản phẩm tự nhiên— mà mọi hoạt động phát triển phải dựa vào đó — thường không thỏa đáng. Liên quan đến vấn đê này, một câu hỏi được đặtra: “Người nghèo là tác nhân hay là nạn nhân của sự suy thoái tài nguyên thiên nhiêã?” Muốn trả lời câu hỏi này, cần phải bất đầu bằng sự nhận đạng tình trạng nghèo nàn.
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 của Hội nghị Tư vấn các nhà Tài trợ Việt Nam (2003) nhận định rằng “Không có một định nghĩa duy nhấtVề nghèo, và do đó, cũng không có một phương pháp hoàn hảo để do được nó” (tr. Tuý nhiên, vẫn phải dùng một số chuẩn mực nhất định để có thể hình đung tẩm quan trọng của vấn đề, và quan trọng hơn, phải có một sự chẩn đoán chính xác để có thể đẻ ra các biện pháp thích hợp trong từng bối cảnh cụ thể. Thực tế là cáe cộng đồng dân cư tại chỗ chứng kiến sự suy thoái tài nguyên làm chớ đời sống của họ cầng khó khăn hơn. Do đó, trong vòng luẫn quần này, họ vừaJã nạn nhân vừa là tắc nhân của sự suy thoái tài nguyên.
"Rừng mất, không có cất ăn, thận chí ở vũg rừng mà việc kiếm củi ngày càng khó khăn vất vả hơn”, đó là câu nói thường Bặp khi tiếp xúc với người dân địa phương. Trong thực tế, có thể tiối rằng cùng với Sự suy thoái tài nguyên, nhiều cộng đồng ở vùng có rừng dang cớ Xu hướng trồng chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. < ' Để đóng góp vào công cuộc đổi mới nông thôn, quản lý bền vững tài nguyên thien nhiên Và muôi trường gắn liền với xóa đói giảm nghèo là những nhiệm vụ cấp thiết cha các cỡ quân phát triển. Công cuộc này đòi hỏi phải xây dựng một cách tiếp cận tổng hợp để liên kết giữa chiến lược giảm nghèo và việc bảo tổn tài nguyên.
Để án nghiên này nhằm góp phần vào mục đích ấy. Trong đề tài nghiền cứu này, với quan niệm rằng (1) sự phát triển của các cộng đồng địa phương phụ thuộc vào khả năng phát huy các nguồn lực của chính họ trong tiến trình đổi mới; và (2) KTBĐ (Tri thức bản dịa) là một nguồn lực quan trọng có thể giúp phát huy các nguồn lực khác của cộng đồng, giúp họ tìm kiếm con đường phát triển bễn vững. (3) Nghiên cứu trí thức bản địa và vai trò của nó Khi xem KTBĐ là một nguồn lực. để phát triển,dé án nghiên cứu này không phải là một sự nghiên cứu thuần túy mang tính chất hàn lâm về KTBĐ mà là một công trình nghiên cứu phát triển dựa trên KTBĐ.
Trong Chương 2, tôi sẽ trình bày một tổng quan về khái niệm “tri thức bản địa” và giải thích lý do đang được các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước quan tâm trở lại. ở đây, tôi muốn nhấn mạnh rằng trong cách tiếp cận nghiên cứu phát triển này, cần phẩĩ bát đầu từ những gì mà người dân dang có và phát huy các nguồn lực ấy. Trong cấc nguồn lực của sự phát triển nông thôn, chúng ta đã bước đầu quantâm đến các nguồn lực tự nhiên qua việc phát triển các hình thức giao đất, gìao rừng, các nguồn lực kinh tế, qua việc hoàn thiện một hệ thống tín dụng nông thôn, nhưng có vẻ như chúng ta chưa quan tâm đến nguồn lực xã hội. Tôi quan niệm KTBĐ là một nguồn lực xã hội mà các cộng đồng địa phương cũng như những người làm công tác phát triển có thể dựa vào đó để tìm kiếm con đường phát triển bên vững.
Điều này cũng có nghĩa là sự phát triển (hay ngược lại, sự mai một) của các hệ thống KTBĐ, bao gồm tất cả các khía cạnh của. đời sống, kể cả việc quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đã và đang là một vấn đẻ sống cồn đối với những ai đã xây dựng nên các hệ thống tri thức này và cả cho những ai muốn vận dụng chúng vào các hoạt động phát triển. Như vậy, nghiên cứu đầy dat van dé xem xét KTBĐ của các cộng đồng trong cách tiếp ân quản lý tài nguyên thiên nhiên tổng hợp. Các tài nguyên chính được quan iãín là rừn (Và đa dạng sinh học), đất và nước.
Các cộng đồng địa phương phá triển sinh kế của mình trên cơ sở những tài nguyên này. Nhận thức của họ về tài nguyên và môi-wđưỜng, chỉ phối cách thức mà họ quản lý các tài nguyên đó. Tất cả những tiệu này chỏ thấy cần phải khảo sát, tư liệu hóa và đánh giá các nguồn KTBĐ nhằm tìm kiếm khả năng vận dụng vào việc quản lý nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững. Trong quá trình công tác thực hiện các dự án phát triển cộng đông trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Cát Tiên, tôi có dịp đến thăm và quan sát nhiều cộng đồng dân cư người Mạ và người S'tiêng, thực hiện các hoạt động đánh giá nông thôn có sự tham gia và lập các chương trình hành động cấp thôn, xã.
Những hoạt động này giúp tôi nhận thấy rằng các hoạt động phát triển nông - lâm nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung, có thể đạt được sự thành công:cao hơn khi KTBĐ được vận _ dụng, tiềm năng của cộng đồng được phát huy.